Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Lưu trữ

  • Phản hồi gần đây

    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    sonata on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Nguyễn Trãi, Lương Đăng và âm nhạc

Posted by cavenui on Tháng Hai 19, 2012

Vụ bất đồng giữa Nguyễn  Trãi và Lương Đăng-2 nhân vật phụ trách Ủy ban Nhà nước về soạn thảo Lễ nhạc thời Hậu Lê được đời nay diễn giải theo những cách khác nhau.

 

Đầu tiên Cavenui lôi sử ra chép đã. ĐVSKTT-Bản kỷ- quyển XIX, file pdf download được từ trang viethoc, search Lương Đăng ra ngay những thông tin cần tìm  (loại đi 2 tin liên quan đến ông Lương Đăng Quang)

 

Đinh Tỵ, Thiệu Bình năm thứ tư (1437)

Sai Hành khiển Nguyễn Trãi và Lỗ bộ Ty giám Lương Đăng đốc suất làm loan giá, nhạc khí, dạy tập nhạc múa

Hành khiển Nguyễn Trãi dâng bản vẽ khánh đá và tâu rằng

“Kể ra, đời loạn dùng võ, thời bình chuộng văn. Nay đúng là lúc nên làm Lễ Nhạc. Song không có gốc thì không thể đứng vững, không có văn thì không thể lưu hành. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc.

Thần vâng chiếu soạn nhạc, không dám không dốc hết tâm sức. Nhưng vì học thuật nông cạn, sợ rằng trong khoảng thanh luật , khó được hài hòa. Xin bệ hạ yêu nuôi muôn dân, để chốn xóm thôn không còn tiếng oán hận buồn than, như thế mới không mất cái gốc của nhạc”.

Vua khen ngợi và tiếp nhận. Sai thợ đá huyện Giáp Sơn lấy đá ở núi Kinh Chủ để làm.

….

Tháng 5, Hành khiển Nguyễn Trãi tâu rằng:

“Mới rồi, bọn thần cùng với Lương Đăng hiệu định nhã nhạc, nhưng kiến giải của thần không giống với Lương Đăng, thần xin trả lại công việc được sai”.

Trước kia Thái Tổ sai Nguyễn Trãi định ra quy chế mũ áo, chưa kịp thi hành. Đến đây, Lương Đăng dâng sớ thư đại ý nói:

“Về lễ thì có lễ đại triều và lễ thường triều. Tế trời, cáo miếu, ngày thánh tiết, ngày chính đám, thì làm lễ đại triều, hoàng đế mặc áo cổn, đội mũ miện, lên ngồi ngai báu, trăm quan đều mặc triều phục đội mũ chầu. Còn những ngày mồng một, ngày rằm hằng tháng thì Hoàng đế mặc áo bào vàng, đội mũ xung thiên, ngồi ngai báu, trăm quan đều mặc công phục, đội mũ.

Lễ thường triều thì hoàng đế mặc áo bào vàng, đội mũ xung thiên, ngồi sập vàng, trăm quan mặc thường phục cổ tròn, đội mũ sa đen. Về nhạc thì có nhạc tế Giao, nhạc tế Miếu, nhạc tế Ngũ tự, nhạc cứu khi có nhật thực, nguyệt thực, nhạc đại triều, nhạc thường triều, nhạc cửu tấu khi đại yến, nhạc dùng trong cung, không thể dùng nhất loạt được. Về lỗ bộ đại giá, như xe kiệu thì có đại lộ, tượng lộ, mã lộ, có cửu long dư, thất long dư, có bộ liễn, có phi liễn; về nghi trượng thì có kim qua, phủ, việt, chàng, phướn, tinh kỳ, mao tiết, chương phiến, long ngũ phượng. Số ngựa đóng vào xe và số đội ngũ theo hầu cũng đều có quy định cả,thần không thể chép hết được”.

Thư ấy dâng lên, vua sai Lương Đăng định ra các quy chế. Đăng nhân đó dâng lên quy chế về mũ áo và nhạc khí. Đại để, quy chế do Đăng và Trãi định ra phần nhiều không hợp nhau, những chổ bàn về số lượng, trọng lượng các nhạc khí có nhiều điều trái nhau, mà trình bày cũng khác nhau, cho nên Trãi xin thôi việc đó.

….

Tháng 8

Trung thừa Bùi Cầm Hổ tâu rằng:

“Bệ hạ lên ngôi tới nay, hay thay đổi phép cũ của Thái Tổ, như Lỗ bộ ty đồng giám Lương Đăng,

Tiên đế cho là người hơi hiểu biết, dùng làm Nội nhân phó chưởng, sau thấy hắn khúm núm, không thể gần gũi được, cho ra làm văn đội. Nay lại thấy hắn làm quan xin bệ hạ nghĩ lại”.

….

Lỗ bộ ty đồng giám kiêm tri điển nhạc sự Lương Đăng dâng nhạc mới phỏng theo quy chế của nhà Minh mà làm.

Trước Đăng và Nguyễn Trãi đã vâng mệnh soạn định nhã nhạc. Trong đó, nhạc ở trên có 8 loại thanh âm như: trống keo lớn, khánh chùm, chuông chùm, đặt các loại đàn cầm, đàn sắt, sênh, quản,thược, chúc ngữ, huân trì. Nhạc ở dưới điện thì có phương hưởng treo, khống hầu.

….

Tháng 11

Ban bố các nghi thức mới định lại trong các dịp lễ thánh tiết, chính đáng, sóc vọng, thường triều đại yến .

Trước kia, vua sai Lương Đăng định các nghi thức đại triều, đến đây hoàn thành dâng lên. Vua bái yết Thái miếu, các quan mặc triều phục làm lễ theo nghi thức mới bắt đầu từ đây.

Bọn Hành khiển Nguyễn Trãi, Tham tri bạ tịch Nguyễn Truyền, Đào Công Soạn, Nguyễn Văn Huyến, Tham nghị Nguyễn Liễu dâng sớ tâu rằng:

“Muốn chế tác lễ nhạc, phải đợi có người rồi hãy làm, được như Chu Công thì sau mới không có lời chê trách. Nay sai kẽ hoạn quan Lương Đăng chuyên định ra lễ nhạc, chẳng nhục cho nước lắm sao!

Vả lại, quy chế lễ nhạc của y là dối vua lừa dưới, không dựa vào đâu cả, như đánh trống là báo giờ ra chầu triều sớm, nay vua ra chầu rồi mới đánh.Theo quy chế xưa, khi vua ra, thì bên tả đánh chuông hoàng chung, rồi năm chuông bên hữu ứng theo, lúc vua vào đánh chuông chưng tân rồi năm chuông cũng ứng theo. Nay vua ra chầu, đánh 108 tiếng chuông, đó là số lần đếm tràng hạt của nhà sư. Nếu theo quy chế của nhà Minh, thì khi vua ngồi ở cửa Phụng Thiên phải có ngai báu, nay chỉ có một điện Hội Anh, lại chỉ có sập vàng, nếu di chuyển thì sợ không yên, đặt cả hai thứ cũng không được, thế là lễ nghi gì?. Làm xe thì đằng trước có diềm, đằng sau mở cửa. Nay lại mở cửa đằng trước, quy chế xưa làm như thế hay sao?. Khi vua ra thì có hô thét, khi vào thì có thu dẹp, đó là quy định của nghi lễ. Nay quan coi cửa xướng tâu mọi việc xong, các quan lui ra, vua con ngồi mà người thu dẹp đã la thét dọn dẹp là làm sao?. Vả lại, Đăng là đứa hoạn quan, thần trộm lấy làm ngờ lắm”.

Đăng tâu: “Thần không có học thức, không biết quy chế cổ, các nghi thức nay đã làm, chỉ trông cả vào hiểu biết của thần mà thôi, còn ban hành hay không là quyền của bệ hạ, thần đâu dám chuyên quyền”.

Nguyễn Liễu tâu rằng: “Từ xưa đến nay chưa bao giờ có cảnh hoạn quan chuyên phá hoại thiên hạ như thế này”.

Đinh Thắng từ trong bước ra, mắng rằng:

“Hoạn quan làm gì mà phá hoại thiên hạ? Nếu phá hoại thiên hạ thì chém đầu ngươi trước”.

Cuối cùng phải giao Liễu cho hình quan xét hỏi. Án xử xong, tội đáng chém, nhưng được lệnh riêng, cho thích chử vào mặt, đày ra châu xa.

…. Hết chép.

 

Các nhà văn hóa trong nước gần như thống nhất với nhau rằng, trong vụ bất đồng này, anh hùng dân tộc-nhà văn hóa lớn Nguyễn Trãi đại diện cho phái bảo tồn văn hóa dân tộc, còn hoạn quan Lương Đăng đại diện cho phái văn hóa lai căng, vọng ngoại, cụ thể là vọng Tàu đáng ghét.

 

Ví dụ vài ý kiến như sau:

Kiều Văn

Nguyễn Trãi còn là người am tường về âm nhạc. Ông được vua Lê Thái Tông giao cho nhiệm vụ cùng với Lương Đăng soạn ra quốc nhạc và lễ nhạc của triều đình. Ông có một chủ trương cực kì sáng suốt: quốc nhạc Đại Việt phải được xây dựng trên nền tảng âm nhạc dân tộc truyền thống của Đại Việt… Trong khi đó Lương Đăng lại đưa ra một chủ trương hết sức ngu xuẩn: lấy quốc nhạc có sẵn của Trung Hoa làm quốc nhạc của nước ta! Nguyễn Trãi quyết liệt phản đối chủ trương ấy, do đó xảy ra mâu thuẫn không thể hoà giải được với Lương Đăng. Rốt cuộc Nguyễn Trãi xin rời triều về trí sĩ ở Côn Sơn.

http://newvietart.com/index4.912.html

 

GS Trần Quốc Vượng

Nhưng cuộc tranh luận giữa Nguyễn Trãi và Lương Đăng về việc soạn nhạc cung đình, sự bất đồng ý kiến sâu sắc giữa hai người, việc Nguyễn Trãi xin rrút khỏi việc soạn nhạc, việc Lương Đăng hoàn toàn mô phỏng nhạc thể và nhạc cụ triều Minhtrong việc soạn nhạc cung đình triều Lê đã đánh dấu một bước ngoặt trong sự tiến triển của tình trạng nhị nguyên văn hoá giữa cung đình và dân gian. Nhà Lê nhất là từ đời Lê Thánh Tông (1460-1497), về chính trị thì củng cố chế độ trung ương tập quyền theo hướng chuyên chế, về tư tưởng thì theo hướng độc tôn Nho giáo,bài xích Phật, Đạo và tín ngưỡng dân gian, về văn hoá thì xa rời vốn liếng dân gian…

http://thuvien.maivoo.com/Nhan-Vat-Lich-su-c16/Nguyen-Trai-trong-boi-canh-van-hoa-viet-nam-d3874

 

GS Trần  Văn Khê

Trong lúc làm việc với Lương Đăng có nhiều điểm bất đồng giữa 2 người. Lương Đăng có ý chép y lại những qui định nhạc cung đình của nhà Minh, đặt ra 2 dàn nhạc Đường Thượng Chi Nhạc tấu trên cung điện, và Đường Hạ Chi Nhạc tấu dưới sân đình. Dàn Đường Thượng Chi Nhạc gồm 8 loại nhạc khí thuộc về 8 âm (Bát âm) giống như dàn nhạc Triều Hạ Yến Hưởng Chi Nhạc của nhà Minh, chỉ khác số nhạc khí được dùng trong biên chế.

Nguyễn Trãi mặc dầu không đồng ý với cách sắp đặt của Lương Đăng, không chỉ trích biên chế của dàn nhạc và các loại nhạc. Nhưng khi hành lễ thì những chi tiết trong cách tấu nhạc có nhiều điểm rất sai, Nguyễn Trãi với sự đồng tình của một số quan trong triều đình như Tham Tri Bạ Tịch, Nguyễn Tuyền, các quan Đào Công Soạn, Nguyễn Văn Huyến, Tham Nghị Nguyễn Liễu, đã dâng sớ….

Khi xưa vì một Lương Đăng mà nhạc cung đình nhà Lê không được xây dựng vững chắc. Ngày nay, trong những việc tổ chức âm nhạc tại nước Việt, chúng ta cũng phải tránh để đừng có những “Lương Đăng” vọng ngoại và coi thường nhạc cổ truyền Việt Nam.

http://ab11.violet.vn/entry/showprint/entry_id/5861983

 

Nhà văn Trần Thị Trường:

Đọc lại lịch sử thời Lê, ta thấy Nguyễn Trãi và Lương Đăng, người thì dâng nhạc mới phỏng theo quy chế của nhà Minh (Trung Hoa), người thì làm mới trên cơ sở cái cũ mang cốt cách truyền thống dân tộc. Những gì Nguyễn Trãi đưa ra muôn đời được nhớ, những gì Lương Đăng làm mới nhưng mất gốc đã bị tẩy chay và lãng quên.

http://chodoxua.vn/showthread.php/51520-B%E1%BA%A3n-s%E1%BA%AFc-Vi%E1%BB%87t-tr%C6%B0%E1%BB%9Bc-quot-th%E1%BA%A3m-h%E1%BB%8Da-quot-ngo%E1%BA%A1i-lai

 

 

Nếu căn cứ vào Nguyễn Trãi từng cáo: phong tục Bắc-Nam cũng khác, căn cứ vào việc ông làm nhiều thơ Nôm, căn cứ vào tinh thần ái quốc không thể phản bác ở ông, căn cứ vào chi tiết dâng khánh đá thì có thể nghĩ như các nhà văn hóa liệt kê ở trên. Tuy nhiên những căn cứ này không thể hiện trực tiếp trong vụ tranh cãi, nên có nhà nghiên cứu lại có ý kiến khác.

Sử gia độc lập Tạ Chí Đại Trường viết:

Sự xung đột giữa nho thần và hoạn quan có lúc đi đến chỗ khôi hài điếng người như trong câu chuyện xảy ra dưới triều Càn Long đã kể. Tuy nhiên sự khinh miệt của nho thần cũng dẫn đến phản ứng của hoạn quan khi thấy những người kia có thành kiến quá quắt, không hiểu cả lí lẽ bình thường. Trong cuộc tranh chấp về lễ nhạc giữa nhóm Nguyễn Trãi và Lương Đăng (1437), Tham nghị Nguyễn Liễu chê hoạn quan không đủ khả năng, không hiểu phép xưa (như của Chu Công), phép nay (như của nhà Minh), nên làm sai lệch cả. Lương Đăng, với quan điểm ngày nay thì chắc là làm theo “tinh thần dân tộc có sáng tạo” chế biến, nên nhũn nhặn xin dành quyền quyết định cho vua. Nguyễn Liễu sợ Thái Tông nghe lời, liền phản kháng trước: “Từ xưa đến nay chưa bao giờ có cảnh hoạn quan phá hoại thiên hạ như thế này”. Thế là tranh chấp tổ chức văn hoá trở thành sự kèn cựa phỉ báng riêng tư tập thể. Đinh Thắng từ trong bước ra mắng: “Hoạn quan làm gì mà phá hoại thiên hạ? Nếu phá hoại thiên hạ thì chém đầu ngươi trước”. Ông văn quan đa sự hay chữ, hú hồn vì thoát khỏi bị chém đầu, nhưng mang chữ thích vào mặt, những ngày tàn nằm ở châu xa hẳn phải ân hận về cơn cường ngạnh bảo vệ Thánh giáo của mình. Cũng nên lưu ý rằng Đinh Thắng là người đã có lòng can ngăn Nguyễn Trãi chớ đem Thị Lộ vào cung làm vây cánh, hành động đã khiến ông thái giám này chết (1442) theo ông Hành khiển đối thủ trong cuộc tranh cãi trên.

(Sử Việt đọc vài quyển-Tạ Chí Đại Trường)

http://vcomtech.net/vn/index.php?option=com_content&view=article&id=954:s-vit-c-vai-quyn-4&catid=38:lichsuvietnam&Itemid=527

 

Chính sử quan cũng tỏ ra ngầm đứng về phía Trần, nghĩa là xung đột không phải chỉ ở trên tột đỉnh quyền bính mà còn ở đám văn quan gốc trung châu tự phụ ở kiến thức Nho hoá cao hơn, và nhóm văn quan gốc Lam Sơn mang dấu vết bản xứ hơn. Nổi bật là sự tranh chấp về quy định nhã nhạc cho triều mới, giữa Nguyễn Trãi và Lương Đăng. Sự thắng bại của phe nào cũng lại tuỳ thuộc vào tình thế đương thời. Phép thiết triều của Lương Đăng tuy bị công kích dữ nhưng vẫn thắng thế. Có sự nhường nhịn khi Nguyễn Trãi dâng khánh đá được chấp nhận nhưng khi tranh cãi gay go thì phe văn thần trung châu được nhắc cho biết quyền lực là ở nơi đâu: Tham nghị Nguyễn Liễu bị xử “tội đáng chém nhưng được lệnh riêng cho thích chữ vào mặt, đày đi châu xa.” Cũng thắng thế là nhóm người đem tin tưởng thần bí (như cứu mặt trăng, mặt trời) vào một triều đình còn vua quan với sinh hoạt cũ xưa (vua cầm cung bắn chim, quan còn chăng lưới săn trên đất kinh kì.) Tuy nhiên nhóm trung châu lại thắng thế khi viện dẫn tinh thần Nho giáo trên đồng bằng như khi xin cấm lối hát bá cổ, níu chân tay trên đất Thanh Hoá, xin cho công thần khỏi theo “quốc tính” / họ Lê để trở về họ của tông tộc mình…

(Bai sử khác cho VN-chương 9)

http://damau.org/archives/4073

 

Như vây theo Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Trãi thuộc nhóm nho thần, nhóm văn quan trung châu có kiến thức Nho hóa cao hơn,  còn gọi là nhóm  Trần (Nguyễn Trãi là cháu ngoại quan lớn nhà Trần, thuộc giới thượng lưu trí thức, khác hẳn nhóm Lê Sát bần cố nông ít chữ được tôi luyện qua trận mạc). Nhóm Trần này hiểu Nho hơn, hiểu Hoa hơn, còn  hoạn quan ít chữ Lương Đăng thuộc nhóm bần nông hơn, dân dã hơn, bản xứ hơn. Họ Tạ còn viết thẳng phép đặt nhạc của Lương Đăng là ”theo tinh thần dân tộc có sáng tạo”.

 

Sự đảo tuyến này (chính phe Lương Đăng mới là phe dân tộc) chúng ta không thích, nhưng nếu đọc bản sớ của nhóm Nguyễn Trãi, Đào Công Soạn thì có vẻ như vậy.

Chính nhóm Nguyễn Trãi chê Lương Đăng làm nhạc không giống quy định nhà Minh:

Nếu theo quy chế của nhà Minh, thì khi vua ngồi ở cửa Phụng Thiên phải có ngai báu, nay chỉ có một điện Hội Anh, lại chỉ có sập vàng, nếu di chuyển thì sợ không yên, đặt cả hai thứ cũng không được, thế là lễ nghi gì?

Đặc biệt nhóm Nguyễn Trãi phản biện việc đưa yếu tố phi Nho phi Hán vào trong lễ nhạc Lương Đăng:

Nay vua ra chầu, đánh 108 tiếng chuông, đó là số lần đếm tràng hạt của nhà sư.

Còn bám vào câu

Lỗ bộ ty đồng giám kiêm tri điển nhạc sự Lương Đăng dâng nhạc mới phỏng theo quy chế của nhà Minh mà làm.

Mà cho rằng Nguyễn Trãi phản bác Lương Đăng là phản bác việc mô phỏng quy chế nhạc Minh thì e là không đúng. Cả Nguyễn Trãi và Lương Đăng cùng được giao nhiệm vụ làm nhạc phỏng Minh, tất nhiên là chỉ phỏng thôi, có yếu tố khác. Nguyễn Trãi không chỉ trích biên chế của dàn nhạc và các loại nhạc (như GS Trần Văn Khê đã nhận xét) chỉ phản bác việc ” Nhưng khi hành lễ thì những chi tiết trong cách tấu nhạc có nhiều điểm rất sai”, sai ở đây là sai với quy cách Minh.

 

Đối chiếu với đời nay, những ông nhạc sĩ học hành tử tế sành điệu am tường văn hóa các kiểu (đồng giới với Nguyễn Trãi) có thể nức nở khen cô Whitney Houston có thanh đới mạ vàng, chứ những cô cave, những anh đạp xích lô và kể cả những anh làm to nhưng ít chữ (đồng giới với Lương Đăng) chỉ thích nức nở kiểu Tuấn Vũ thôi, sẽ thấy sự phân tuyến của Tạ Chí Đại Trường là có cơ sở.

Mà thời Nguyễn Trãi, thế giới bên ngoài đối với các cụ, chưa có nước Mỹ của cô Whitney Houston, chỉ biết có nước Trung Hoa của ông Đỗ Phủ thôi.

Lịch sử là những gì đã xảy ra chứ không phải là thứ ta muốn nó phải xảy ra.

4 phản hồi to “Nguyễn Trãi, Lương Đăng và âm nhạc”

  1. hay kịch liệt!

  2. Thaothucsg said

    He he, không biết các cụ sử học còn có tài liệu nào khác không nhỉ? Món sử học này em chả dám lạm bàn vì dốt lắm! Để em mời bạn Quách Hiền vào xem có ý kiến ý cò gì không?🙂

  3. Tây bụi said

    Những tây bụi cũng nhất trí với “những cô cave, những anh đạp xích lô và kể cả những anh làm to nhưng ít chữ…”

    Có vẻ như các hành khiển xưa tranh ghế với nhau như ở viên chức các hội hiện nay.

  4. Osin Huy Duc said

    “Lịch sử là những gì đã xảy ra chứ không phải là thứ ta muốn nó phải xảy ra”, chí phải, nhưng thường thì lịch sử chỉ được biết đến như những gì mà các sử gia mong muốn nó xảy ra!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: