Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Lưu trữ

  • Phản hồi gần đây

    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    sonata on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Ốc bươu vàng

Posted by cavenui on Tháng Mười Một 26, 2010

Lang thang trên mạng bắt gặp 1 bài viết của nhà báo-blogger đang nổi Hồ Thu Beo cười cợt nhà sinh học-nghị sĩ đang nổi Nguyễn Lân Dũng nhân việc ông Dũng chất vấn bauxite Tây Nguyên. Ở địa chỉ này:

http://vn.360plus.yahoo.com/thuhong_1960/article?mid=1962

Chuyện chị Beo, chuyện bauxite Tây Nguyên, chuyện chị Beo ác cảm với những người phản đối dự án bauxite Tây Nguyên, ba chuyện đó Cavenui không bàn. Không bàn không phải vì đề tài cấm kỵ sinh tử lệnh gì gì, mà vì nó đã được bàn ở rất nhiều nơi nên không cần thiết phải có mặt trong blog Cavenui nữa.

Nhưng trong bài của chị nhà beo (nhà báo) có 1 chi tiết mà Cavenui muốn nhấn nhá thêm, đó là đoạn chị Beo tạt ngang quá khứ để đá nhẹ vào chân ông Dũng thêm 1 cước nữa:

Cũng không ngạc nhiên nếu nhớ lại rằng chính giáo xư tiến xĩ xinh học này là người cổ vũ không tiếc lời tiếc công cho  việc nuôi ốc biêu vàng và chuột hải ly. May nhất là  vụ hải ly ông thất bại, dân không nghe theo như vụ ốc biêu vàng,  chứ không bây giờ có khi Việt ta ăn chuột thay cơm.

Đề tài ốc bươu vàng (đề tài chuột hải ly không bàn vì vụ nuôi chuột không thành, miễn truy cứu trách nhiệm) là đề tài Cavenui muốn tìm hiểu mà lại có rất ít thông tin (khi người ta quảng bá cho con ốc thì em đang xa quê xa mẹ) nên mở bài này để các bác vào chỉ giáo cho.

Nhờ Mr.Google tìm kiếm thông tin về việc tuyên truyền cổ vũ nuôi ốc bươu vàng ở VN trước đây, chỉ nhặt được vài thông tin chưa thể gọi là nhiều.

Ví dụ bài của TS Nguyễn Quang A trên báo Lao Động 18/7/2010, có đoạn:

 

Lại nhớ đến tai hoạ ốc bươu vàng, được đưa vào Việt Nam năm 1986 rồi bắt đầu nuôi ở quy mô công nghiệp năm 1992. Cũng lại do các cơ quan nhà nước khởi xướng (Bộ Khoa học Môi trường hay Bộ Nông nghiệp?) và nay đã thành tai hoạ cho bà con nông dân và cho môi trường.

Thiệt hại về vụ này có thể ước lượng là con số khổng lồ (riêng cho các chiến dịch diệt ốc bươu vàng đã lên đến hàng trăm tỉ). Nó được nhập về và nuôi trồng cũng với mục đích tốt: xuất khẩu và làm thức ăn. Nhưng hậu quả không lường mới là tai hoạ: Chúng ăn thực vật, hại mùa màng, hại lúa, đặc biệt là mạ dưới 3 tuần có thể bị chúng ăn hết 100%.

Thời đó báo chí còn chưa mấy nói đến (nếu có nói thì là tuyên truyền cho việc nuôi hơn là có những phản biện về những hệ quả có thể xảy ra). Đã không có thảo luận như với trường hợp chuột hải ly, nên hậu quả chúng ta phải gánh không biết bao giờ mới hết, chắc ốc bươu vàng sẽ là vấn nạn mãi mãi vì với quy mô lan ra cả nước, và chắc sang cả các nước lân cận, thì vô cùng khó khắc phục.

Chẳng rõ các quan chức thời đó có ai bị quy trách nhiệm gì không, hay họ đã đều “hạ cánh an toàn”?

http://www.laodong.com.vn/Tin-tuc/Tu-oc-buou-vang-den-hai-ly-va-rua-tai-do/6076

 

Hoặc bài trên trang web Bạn Nhà Nông dựa theo bài của KS Trần Thị Vân-chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng trên tạp chí Thông tin khoa học công nghệ số 4/1995, có đoạn:

OBV được đưa vào Việt Nam bằng nhiều đường không chính thức, thông qua kiểm dịch từ Mỹ, Pháp, Philippin, ẤN Độ, Đài Loan… lúc đầu do một vài người mang từ nước ngoài về 2-3 đôi, nhiều lắm là vài chục đôi, cũng để thử nuôi trong bể xi măng, ao hồ nhỏ rồi chuyển cho người khác nuôi nhân cá thể. Từ khi được một số người khuyến cáo về lợi ích của OBV thì xuất hiện thêm những hộ nuôi OBV giống để kinh doanh.

Trước năm 1992, ở một số tỉnh, mới chỉ nuôi ở dạng phân tán cá thể. Từ năm 1992 có thương nhân Đài Loan đầu tư liên kết với cơ sở Kiên Hùng (huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang) và cơ sở ở huyện Củ Chi (thành phố Hồ Chí Minh) để nuôi công nghiệp và chế biến OBV tại Việt Nam. Tại Kiên Hùng và Củ Chi, phong trào nuôi OBV đã lan nhanh chóng ra các vùng phụ cận nhờ đặc điểm dễ nuôi, đẻ nhiều, nhanh thu hồi vốn.

Những thương nhân Đài Loan còn có ý định mở rộng quy mô sản xuất OBV hơn nữa và định triển khai thêm một cơ sở ở An Giang. Nhưng rất may là Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở nông nghiệp An Giang đã kiên quyết không chấp thuận việc này.

http://bannhanong.vietnetnam.net/home.php?cat_id=27&id=1979&kh=

Liên quan đến sự nuôi ốc ở quy mô công nghiệp từ 1992 ai là người có lỗi. Mới chỉ ra được tên cơ sở Kiên Hùng, thương nhân Đài Loan không rõ danh tính, “một số người khuyến cáo” theo bài KS Vân hoàn toàn khuyết danh còn TS A quả quyết “cơ quan nhà nước khởi xướng” nhưng lại tự đặt câu hỏi Bộ Khoa học Môi trường hay Bộ Nông nghiệp. Tóm lại là thông tin hãy còn mù mờ và chưa thấy nhắc tên bác Lân Dũng nhà đài.

Thử search đồng thời “Nguyễn Lân Dũng” và “ốc bươu vàng” cho nhanh thì tìm được 1 bài viết của bác Dũng về chuột hamster trên An ninh thủ đô 22/2/2008, có đoạn nhắc đến con ốc:

Tuy nhiên, với những con quý, có ích cần được bảo vệ. Song, nếu để sổng ra ngoài thì lại thành có hại.

Ví dụ con thỏ, ai cũng biết đây là loài động vật tốt, quý nhưng mà Australia đã phải đối phó với “nạn” thỏ vô cùng khó khăn, vì nếu sổng ra ngoài chúng có thể phá tan hoang nước này và biện pháp cuối cùng đã phải dùng đến vi sinh vật gây bệnh dịch cho thỏ để diệt trừ.

Bản thân những con vật đó không có hại, mấu chốt nằm ở vấn đề quản lý. Trên tinh thần đó, bất kỳ loài nào cũng vậy, kể cả loài chúng ta đã và đang lên án rất ghê như ốc bươu vàng.

Về mặt sinh học loài này rất có khả năng chuyển hoá được từ protein thực vật sang protein động vật, hiện nay có người đang nuôi ốc bươu vàng để làm thức ăn nuôi ba ba.

Như vậy, con vật nào cũng có hai mặt, không con vật nào xấu cả. Còn, đối với chuột Hamster nếu người thích nuôi thì cứ nuôi, nhưng phải có cách bảo vệ, quản lý chúng. Nếu quản lý tốt thì con gì cũng có ích.

http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=18718&ChannelID=5

Bài này không sai về nguyên lý, nghĩa là nếu nuôi đúng cách để phát huy những mặt mạnh của vật nuôi, vô hiệu những mặt xấu của vật nuôi v.v. sẽ không gây tai họa. Nghĩa là nếu hồi 92 về trước bác Lân Dũng cũng nói ý “nên nuôi ốc bươu vàng để có A có B có C với điều kiện nếu 1 nếu 2 nếu 3 thỏa mãn v.v.” thì chắc chưa quy kết được bác “cổ vũ không tiếc lời tiếc công” cho ốc bươu vàng như ý chị Beo. Nhưng chắc gì năm 92 bác Dũng nói giống năm 2008?

Trong lúc tìm kiếm thông tin về bác Lân Dũng, em gặp cả 1 trang web Giáo sư dỏm của nhóm JIPV phong thần cho bác là “GS dỏm cấp 3 và phản cảm”:

http://giaosudom.wordpress.com/2010/08/10/gs-d%E1%BB%8Fm-c%E1%BA%A5p-3-va-ph%E1%BA%A3n-c%E1%BA%A3m-nguy%E1%BB%85n-lan-dung-gs-tskh-nha-giao-%C6%B0u-tu-d%E1%BA%A1i-bi%E1%BB%83u-qu%E1%BB%91c-h%E1%BB%99i-chuyen-gia-cao-c%E1%BA%A5p-d/

Nhưng trang web này dù công kích bác Dũng rất ghê cũng không hề nhắc đến chuyện bác Dũng cổ vũ không tiếc lời tiếc công cho con ốc bươu vàng, nếu có.

Phương pháp “vinh danh” GS dỏm của nhóm JIPV là đếm số công trình ISI, nếu dưới mức sàn thì là dỏm. Công cuộc vinh danh đó sai hay đúng phụ thuộc vào việc đếm trúng hay trật. Về nguyên tắc khi anh tra ra được n công trình, anh chỉ có thể khẳng định “đương sự có ít nhất n công trình ISI” (vì có thể có những công trình anh chưa tra ra) chứ không thể khẳng định “đương sự chỉ có n công trình ISI”, trên thực tế JIPV đã đôi lần đếm sót và sau đó phải đưa đương sự ra khỏi danh sách dỏm.

Nếu Cavenui theo phương pháp của JIPV, sẽ bảo: mới tra ra được 01 chị Beo nói ông Dũng cổ vũ ốc bươu vàng, suy ra lời cáo buộc đó là dỏm. Tất nhiên Cavenui không bảo như thế, vì tra cứu chưa xong, và hỏi han các bác chưa xong.

Vậy em hỏi các bác, những người ở Việt Nam trong những năm 92 về trước:

-Bác Lân Dũng có cổ vũ ốc bươu vàng không, và ở mức độ như thế nào.

– Nếu câu trả lời là không, thì ai/ Nếu câu trả lời là có, thì ngoài bác Dũng còn ai.. cũng cổ vũ ốc bươu vàng như thế

-Cơ quan nhà nước nào, Bộ Khoa học Môi trường hay Bộ Nông nghiệp khởi xướng việc nuôi ốc ở quy mô rộng, ông bộ trưởng bộ khởi xướng là ông nào.

Coi như là 1 câu chuyện về 1 giai đoạn lịch sử của VN mà Cavenui do xa quê nên không biết. Em sẽ đền đáp bằng kể chuyện Liên Xô Gorbachev Yeltsin cho các bác nghe.

18 phản hồi to “Ốc bươu vàng”

  1. hoangguitar said

    Cô Beo này là chuyên gia quăng lựu đạn mà. Mình cũng có đọc thông tin này và cũng ngạc nhiên lắm . cũng search tùm lum nhưng không thấy thông tin.

  2. anti fan said

    Ông này có tội lớn nhất trong đại dịch Ốc Bưu Vàng là đúng rồi Núi ơi ! vì ổng là người cổ súy ngươi ta “nuôi con gì, trồng con gì” mà.
    Còn tiêu chí đếm ISI của trang http://giaosudom.wordpress.com/ để phong giáo sư dổm đâu có gì khó và rất dễ minh bạch. Họ lại cho phản biện rộng rãi. với lại đã nghiên cứu khoa học ai lại đi dấu công trình của mình bao giờ nhưng ở VN thì các GS ta thì cứ bưng bít như mèo dấu cứt ấy. Cơ bản là các GS dổm nhà ta đâu dám….. vì thực sự dổm.

  3. Mr. Do said

    Để tôi nghiên cứu vụ ốc biu vàng xem sao.

  4. Mr. Do said

    Ở đây có một tình huống thú vị nè bác. Một bạn nào đó gửi thư tới Quốc hội hỏi đại biểu Lân Dũng về mấy sinh vật ngoại lai chứa chấp nguy cơ, trong đó (hình như vô tình) đá qua vụ ốc bươu vàng.

    http://hoidap.quochoi.vn/answer/494/Tha_i_biu_Nguyn_Lacircn_Dng_Sau_c_bu.aspx

  5. Mr. Do said

    Thông tin trên Diễn Đàn này cũng có “tố” ông Dũng. Nhưng diễn đàn là thứ rất khó kiểm chứng. Có điều ở đây có một đầu mối thú vị: Thư viện Đại học Nông nghiệp HN lưu trữ rất nhiều bài viết cổ vũ ốc biu vàng. Bác nào ở HN lần mò vào chắc là ra thôi.

    http://hau1.info/forum/archive/index.php/t-2735.html

  6. Mr. Do said

    Có ông này (không nặc danh) cũng tố ông Dũng nè!

    http://vanchinh.net/index.php?option=com_content&view=article&id=174:nhan-vic-phat-hin-vedan-am-thm-git-song-th-vi-c-phat-hin&catid=42:vn–a-d-lun&Itemid=61

  7. giangle said

    Bác google làm sao ra được vụ OBV-NLD, phải chịu khó vào thư viện lục lại báo chi thời 80-85 may ra mới có bằng chứng. Tôi nhớ thời đó Đoàn Thanh niên tuyên truyền ghê lắm, một bạn trong ban chấp hành Đoàn trường trường tôi còn được một giải công trình khoa học trẻ của Thành Đoàn TPHCM về nhân giống OBV. Nhưng tôi không nhớ tên NLD thời đó liên quan đến OBV, phải đến sau giai đoạn 93-95 mới có tin đồn OBV-NLD khi ông này bắt đầu nổi tiếng.

  8. cavenui said

    Cám ơn các bác đã góp ý.

    Đúng như bác Giang và bác Mr.Do nói phải lục lọi thư viện tìm đọc báo chí cũ mới biết được chuyện ngày xưa. Em thấy đấy là việc có thể làm được và cũng nên làm, bác nào có điều kiện nên tìm hiểu lại (những gì Cavenui viết trên blog đều là những thứ em quan tâm ở mức độ chơi chơi thôi nên em xin phép được ăn bám công sức lục lọi của các bác).

    Thông tin của bác Giang (người ta tuyên truyền OBV rất ghê trong giai đoạn 80-85) dường như có chút lệch so với thông tin của bác Quang A (OBV được đưa vào VN từ năm 86), em không biết vụ này nên nhờ các bác tìm hiểu thêm.

    Em nghĩ chuyện OBV quan trọng hơn chuyện ông Lân Dũng, em ngờ rằng ông Lân Dũng nếu có tuyên truyền cho OBV thì cũng chỉ là góp giọng vào dàn đồng ca ca ngợi nó chứ không thể là người đóng vai trò gì lớn trong việc đưa OBV vào VN. Bởi lẽ nếu ông có 1 vai trò lớn như vậy, các đối thủ của ông (nhất là cùng giới) chẳng để cho ông thênh thang lên truyền thông giảng giải chỉ bảo người ta rồi vào quốc hội ưu tư vận nước như thế này.

    Qua mấy link bác Mr.Do đóng góp có vẻ như ông Dũng hơi húng, hơi bộp chộp. Tuy nhiên vụ hoa hồng Nam Sách, nếu ông dốt (ta tạm loại bỏ giả thiết có tư lợi cá nhân) thì đó là dốt về làm ăn kinh tế (Khựa bán giống, hứa mua hoa nhưng không giữ lời) chứ không phải là dốt chuyên môn sinh học, còn vụ Vedan (mà bác Văn Chinh kết án ông Dũng) thì nếu họ gian dối một cách tinh vi, người như ông Dũng khó lòng phát hiện ra được, cũng nên thông cảm.

    OBV là 1 chuyện khác, con ốc ấy ăn cái gì nên nuôi nó phải đề phòng những gì, nếu là chuyên gia sinh học, thì phải biết.

  9. Metal said

    Vào cái thời ấy, đói kém dài mỏ, nên nhà nhà người người tìm cách nuôi con gì để nó nuôi lại mình ý mà. E chẳng nhớ có sách báo nào cổ vũ ko, nhưng khoảng năm 85 ông già e bắt đầu nuôi “vẹt hồng kông”, rồi nuôi yến hót, rồi chuột bạch…toàn là thấy đồng đội nuôi bán được tiền thì bắt chước thôi. Và có hàng xóm dưới tầng nhà e xây bể nuôi ốc hay ếch gì đấy e cũng chẳng nhớ nữa.
    Cái gì cũng thành phong trào hùng hổ rồi thoái trào hết. Cả vụ chó Nhật sau này cũng thế, có cần ai đăng đàn bảo bà con nuôi đâu.
    Vụ ông NLD, là tại hồi đó TV phổ biến rồi, ông ý có giới thiệu về nuôi hải ly trên cái chương trình kiểu như VTV2, nên chắc bị bà con quy tội cho ông ý thôi.
    Vụ ốc bươu trước đấy rồi, lúc đó theo e ít ai biết NDL là ai. NLD lên TV trả lời các câu hỏi hình như trong chương trình bạn của nhà nông tuần 1 lần vào thứ 6, khá là hóm hỉnh nên mới trở nên nổi tiếng.
    Của đáng tội, cả nhà e cũng xem cái show đấy, may mà nhà e trên tầng ko đủ điều kiện chứ ko chắc ông già e cũng nhảy vào nuôi hải ly rồi:))

    Nhân tiện chị Núi giải thích hộ e phát: tại sao cái áo dạ của sỹ quan Nga lại gọi là áo ca-pốt, vì để mua đôi vẹt đâu tiên bố e bảo phải bán cái áo đấy:(

    • cavenui said

      Cả chiếc ca-pốt nhỏ xinh bảo vệ tình yêu khỏi bệnh AIDS lẫn chiếc áo ca-pốt to sụ của quân nhân mà ông cụ nhà bán đi mua vẹt đều có gốc từ tiếng Pháp: capote
      http://fr.wikipedia.org/wiki/Capote
      capote: nom donnée au manteau d’un militaire
      capote:un préservatif (on parle aussi de « capote anglaise »)

      Còn tại sao người Pháp lại dùng chung từ capote để gọi 2 thứ khác nhau này thì mình chưa có điều kiện tìm hiểu.

  10. N.H said

    Nếu tôi nhớ không nhầm thì Thảo Hảo (Phan Thị Vàng Anh) trong tập tạp văn NHÂN TRƯỜNG HỢP CHỊ THỎ BÔNG có bài bàn về con cá chim trắng, có nhắc đến vụ ốc bươu vàng và công trình phản biện của hai sinh viên ĐH Cần Thơ (hay một trường nào đó vùng Nam Bộ). Cavenui thử tìm thêm xem.

    • cavenui said

      Cám ơn bác. Tìm đồng thời “Thảo Hảo” và “ốc bươu vàng” trên mạng ra được đoạn sau:

      Năm 1989, có người từ nước ngoài mang về một ít con ốc bươu vàng, khuyến khích người trong nước nuôi, nói rằng thịt nó ngon, xuất khẩu tốt. Đầu tiên, nuôi thử nó trong hồ xi măng, người ta cho nó ăn xà lách, nâng như nâng trứng, có lẽ sợ nó lệch múi giờ, không ăn tạp được.

      Thế rồi hai sinh viên trường Đại học Nông nghiệp TP.HCM lúc đó là Phạm Uyên Nguyên và Thái Thị Kim Thảo tìm hiểu được, rằng cái con ốc bươu vàng này chẳng phải cảnh vẻ thế đâu, mà ở đâu nó sống cũng được, cái gì nó ăn cũng được, nhất là lúa. Và để cãi lại được những người muốn nuôi con ốc này đại trà, họ đã làm nhiều thí nghiệm, xin tóm tắt sơ lược bằng bảng sau:

      NGƯỜI MUỐN NUÔI ỐC NÓI THÍ NGHIỆM PHẢN CHỨNG KẾT QUẢ
      OBV không sống trên ruộng được, vì vào mùa khô ruộng sẽ khô Treo một xâu ốc lên gác bếp, không cho ăn 6 tháng sau OBV vẫn sống
      OBV không sống trên ruộng lúa được. Vì ruộng mình phun thuốc trừ sâu Pha một chậu nước với nồng độ thuốc trừ sâu gấp 100 lần nông dân vẫn phun OBV sống khỏe
      OBV không sống trên ruộng lúa được, vì ruộng mình nhiều khi nhiễm mặn Thả vào các nồng độ nước mặn, mà cao nhất là đem ra biển OBV chỉ chết trong nước biển (là nồng độ mà lúa đã chết trước ốc)
      OBV không ăn lúa Thả ốc vào mẫu ruộng thí nghiệm, lập lại nhiều lần. Ốc ăn trông có vẻ ngon miệng (thực nghiệm cho biết thêm, ốc có thể ăn 100% mạ mới gieo)

      Hai sinh viên này đã cho đăng báo về con ốc này (“Ốc vàng – nguy cơ hại lúa nghiêm trọng” – Tuổi Trẻ, 1990), nêu rõ “danh tánh” của nó là Pomacea sp.- một loài ốc hại lúa, thịt nhão mà tanh, đến cho vịt ăn vịt cũng chê. Năm 1991, đề tài này được trường nghiệm thu đạt điểm xuất sắc, và đoạt giải Eureka – một giải thưởng khoa học trẻ có uy tín.

      Nhưng bất chấp tất cả những điều đó, đến năm 1995, tức là 5 năm sau, ốc bươu vàng vẫn không bị cấm, đã lúc nhúc trên các đồng ruộng, khiến Quốc hội phải lên tiếng và Thủ tướng chính phủ phải ra tay. OBV lúc này mới được coi là cái nạn cần tiệt trừ.

      (hết trích)
      http://ttvnol.com/tacphamvanhoc/884269/page-9

      Em tìm tiếp “Phạm Uyên Nguyên” thì thấy bác này xông xênh lắm! Còn thông tin trên mạng liên quan đến bác gái Thái Thị Kim Thảo có vẻ không nhiều.

  11. Mr. Do said

    Bác Metal nhắc thì em mới nhớ. Hồi đó ở làng em người ta cũng đua nhau xây bể nuôi cá trê phi (chả biết ở đâu ra). Giờ phong trào đó cũng bốc hơi mất rồi.

  12. trang said

    Em đặc biệt thích câu hỏi số 3 của bác. Nếu trả lời xong câu hỏi này mà kết quả là bộ NN –PTNT chủ trương cho nuôi thì có thể thêm một nguyên nhân vào việc bộ trưởng NN – PTNN (Lê Huy Ngọ) mất chức, bên cạnh một vụ (có vẻ) rõ rành rành là Lã Thị. Theo em bác nên tìm ông Nguyễn Đăng Vang, viện trưởng viện chăn nuôi Việt Nam hồi 2001 gì đó để trả lời cho câu hỏi số 1 và 2 vì ông này cổ vũ ông Dũng kinh lắm cơ. Bác Dũng này, và nhiều bác Dũng khác, không tin được đâu. Thay đổi đến chóng cả mặt. Hay bác không ngờ khả năng no dai nhớ lâu của nhà nông? Mà quái lạ ở chỗ đề xuất 2 lần mỗi lần một con, con này cách con kia cỡ 10 năm, hai con con nào cũng ăn hại, con sau ăn hại hơn con trước, mà lần nào con của bác cũng dính đến Tàu là thế nào? Ý em nói là đề xuất các con đó của bác trong “chương trình Tự nguyện đưa tiến bố vào KHKT vào hộ nông dân” thời 86 – 96 đó ạ.

  13. Trang said

    Ngày 11/10/ 2001 ở tờ Kinh tế V.A.C trang 9 có bài “Chuột hải ly: con nuôi giá trị kinh tế cao hay hiểm họa đại dịch “ốc bươu vàng” mới? Tác giả Hữu Thắng
    Cách đây không lâu những người dân Thủ đô Hà Nội xôn xao vì tin sống tại ngõ 471 Thụy Khuê nuôi một loài động vật lạ có giá trị kinh tế khá cao: thịt có thể xuất khẩu, lông giá trị tương đương lông cừu, mật chế thành thuốc xoa bóp tốt như mật gấu, đuôi sử dụng làm chỉ khâu tự tiêu trong các ca đại phẫu. Đến xương của chúng cũng có thể nấu … thành cao. Sau khi tìm hiểu được biết đó là chuột hải ly. Thực hư chuyện này ra sao?

    Vài nét về chuột hải ly?

    Theo các tài liệu khoa học nước ngoài, chuột hải ly là loài động vật gặm nhấm có nguồn gốc Nam Mỹ. Lông của chúng có màu nâu vàng, đuôi dài tròn, mõm và cằm có màu trắng, tai và mắt nhỏ, răng cửa lớn và có màu da cam chìa ra ngoài moi, chân sau 4 ngón có màng. Con đực nặng hơn con cái 15% trọng lượng. Sinh sản cả năm. Thời kỳ thai nghén kéo dài 130 ngày, mỗi lứa sinh sản 4-6 con có đầy đủ lông và mắt mở. Con non nặng 225 gam và có khả năng ăn cây cối sau 24 giờ sinh. Tổ của chúng được làm bằng cây, thường là những cái hang gần bờ sông. Chúng có thể tạo ra các con đập dài tới 500 m cao 4 m. Chuột hải ly có thể ăn tất cả các loại cây rau và hạt ở trên cạn cũng như ở dưới nước. Giống như tất cả các loài gậm nhấm,răng của nó luôn phát triển. Trong thời gian 5 phút, chúng có thế đốn gãy cây có đường kính 8cm. Ở Bắc Mỹ,chúng là loài gặm nhấm lớn nhất và thứ hai trên thế giới. Kích thước tối đa của chuột hải ly là 140 cm (kể cả đuôi) trọng lượng trung bình là 11, 4 kg tối đa là 17 kg.
    Chuyên gia của chúng ta nói gì?
    Ông Nguyễn Đăng Vang, Viện trưởng Viện chăn nuôi Việt Nam cho biết: chuột hải ly đã mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân Nam Kinh (Trung Quốc) đã có một dây chuyền khá hiện đại chế biến chuột hải ly. Giá mua một đôi chuột hải ly ở Trung Quốc là 1000 nhân dân tệ (bằng 1,7 triệu đồng Việt Nam). Gần đây đối tác đề nghị chúng ta sản xuất hải ly với số lượng 30 ngàn con một năm. Giá mỗi kg chuột hải ly là 21 ngàn đồng. Song đây chỉ là “dự án miệng”, chưa được chính thức đưa vào văn bản cụ thể của một cơ quan chức năng nào. Và cũng theo nguồn tin từ ông Vang thì Trung Quốc là thị trường duy nhất trên thế giới. Ông Vang khẳng định: “Nuôi chuột hải ly hoàn toàn không ảnh hưởng gì tới môi trường”
    Bài học “ốc bươu vàng” vẫn còn đó!
    Trong khi ông Viện trưởng khẳng định là không ảnh hưởng gì thì nhiều tài liệu nghiên cứu khoa học nước ngoài đã đề cập đến sự phá hại của chuột hải ly. Năm 1899, để kích thích nền công nghiệp da và lông hải ly. Khi nền công nghiệp này thất bại, những con chuột hải ly bị xổng ra ngoài, chúng phát triển nhanh chóng và hiện đã xuất hiện tại 22 bang. Năm 1955, phòng thủy sản động vật hoang dã của bang Lousiana dự tính có khoảng 20 ngàn con. Chúng gây ra tổn thất đến mùa màng của bà con nông dân. Chúng đào đất và ăn các phần rễ của cây làm chết cây và làm mất khả năng liên kết của đất dẫn đến đất dễ bị sói mòn. Hơn nữa, chúng còn đào hang ở các công trình thủy lợi như đê điều, kênh tưới nước, thoát nước. Nhiều người dân ở phía Nam bang Lousiana đã lâm vào cảnh khốn đốn vì sự tàn phá của chuột hải ly. Ốc bươu vàng và loài sâu lạ (thức ăn cho chim) đã gây thiệt hại vô cùng lớn đối với sản xuất và đời sống. Nhà nước và nhân dân đã tốn không ít tiền của và công sức mà vẫn chưa dẹp xong. Thiết nghĩ các nhà khoa học, các cơ quan có trách nhiệm cần sớm có nghiên cứu, điều tra kỹ lưỡng về nguồn gốc, giống và khả năng thích ứng, phát triển, giúp định hướng cho người dân nuôi chuột hải ly có mô hình hợp lý, hiệu quả, tránh tệ nạn như ốc bươu vàng.
    Và đây là bài “Một cách làm giàu thật dễ dàng NUÔI HẢI LY” của Nguyễn Lân Dũng trên báo Nông nghiệp Việt Nam thứ hai 14/2/2000 số 19(909)
    Tôi vừa có dịp đi thăm vùng nông thôn Quế Cảng (Quảng Tây) phát hiện thấy có một nghề giúp “xóa đói giảm nghèo”, thậm chí giúp nông dân “làm giàu” (thật không hiểu nổi những dấu ngoặc kép này – Trang), rất đáng để chúng ta học tập.
    Đó là việc phổ biến rộng rãi nghề chăn nuôi hải ly và và tổ chức việc thu mua xuất khẩu bộ lông hải ly.
    Hải ly tên khoa học là Myocastor coypus, một loài duy nhất trong họ hải ly (thuộc bộ gặm nhấm). Hải ly trưởng thành dài 50 -65 cm nặng 5 đến 10 kg, có con nặng tới 18 kg. Tuổi thọ khoảng 8 -9 năm. Chỉ 6-7 tháng tuổi đã có thể giao phối và sinh đẻ. Khả năng sinh đẻ duy trì suốt 5 năm liền, mỗi năm 2 lứa có khi 2 năm 5 lứa. Mỗi lứa đẻ 6-8 con, có khi 9-10 con. Thời gian mang thai là 130 ngày.
    Hải ly có đầu to, mắt nhỏ, tai tròn đuôi dài bằng khoảng 2/3 chiều dài cơ thể, 4 chân ngắn, chân sau có 5 ngón và có màng như chân vịt để giúp việc bơi lội trên nước.
    Hải ly có bộ lông mềm mại, ấm áp và đẹp đẽ. Có thể có màu xám, màu tro đen, màu vàng nâu…lông hải ly cùng với da của chúng sau khi thuộc có thể dùng để may quần áo rét loại sang trọng, để làm giày, làm khăn, làm khăn choàng, làm mũ rét, làm đệm ngồi…Khả năng xuất khẩu hải ly sang các nước xứ lạnh là rất lớn.
    Thịt hải ly là món ăn đặc sản vừa ngon vừa có giá trị dinh dưỡng cao, nhiều nạc, ít mỡ. Ở Trung Quốc, trong 130 loài thịt gia súc, gia cầm, thú rừng, chim rừng thì thịt hải ly được xếp vào loại “Tiên hương vị đệ nhất” (hương vị ngon lành nhất)
    Đuôi, xương, mật và mọi phủ tạng của hải ly đều là các dược liệu quý dùng để ngâm rượu chế thành các loại thuốc chữa tê thấp, giải độc, cường dương, ích tráng, làm lành vết thương. Mỡ hải ly dùng để chế các mỹ phẩm dưỡng da, làm đẹp da…
    Hải ly vốn dĩ là các đặc sản của các đảo ở Tây Ấn Độ và Nam Mỹ. Từ thập kỷ 60 bắt đầu được du nhập vào Trung Quốc và hiện nay trở thành một nghề phụ rất phát đạt đối với nhiều hộ nông dân ở Trung Quốc.
    Nuôi hải ly quá dễ. Có thể nuôi trong chuồng như nuôi lợn. Mỗi mét vuông trung bình nuôi được 1 đôi hải ly. Có thể làm các chuồng theo kích thước 1x2x1m (rộng x dài x cao) hoặc 0,8×1,8x1m. Chuồng nên có độ dốc 1: 25 tráng xi măng. Có một máng để cho hải ly tắm và uống nước, bài tiết. Máng (hay chậu) này phải chứa được 30 lít nước mỗi chuồng. Máng có chổ tháo nước, mỗi ngày phải thay nước sạch 2 lần hoặc nhiều hơn ( tùy theo mức độ bẩn của nước trong chuồng)
    Hải ly ăn cám gạo và rau xanh. Hệ số tiêu hóa rất cao cho nên có hiệu quả kinh tế rất lớn. Một đôi hải ly chăm sóc tốt mỗi năm cho 15 -20 hải ly con. Sau 1 năm hải ly con đã nặng 10 – 15 kg mỗi con, mỗi con ở Trung Quốc bán được 200 – 300 nhân dân tệ khoảng (320 – 480 nghìn đồng). Tiền chi phí thức ăn khoảng 30 – 50 nhân dân tệ cho 1 con mỗi năm (48 – 80 nghìn đồng). Nếu mỗi hộ nông dân nuôi 10 đôi hải ly có thể thu nhập 48 đến 96 triệu đồng mỗi năm(!)(dấu chấm than của bài báo)
    Còn đây là bài Nuôi hải ly trên báo Nông nghiệp Việt Nam ngày 31 tháng 7 năm 2001, hơn 4 tháng sau đó cùng một tác giả Nguyễn Lân Dũng
    LTS: Báo NNVN đã từng giới thiệu bài viết nuôi hải ly vào dịp đầu năm ngoái. Suốt từ đó đến nay, nhiều bạn đọc viết thư hỏi về kỹ thuật nuôi cùng nơi bán giống… song hiện tại ở nước ta chưa có cơ sở nào nhập giống hải ly về bán, ngoại trừ một hộ ở Hà Nội mới nhập về nuôi thử. Trong số báo này, NNVN xin giới thiệu bài viết của GS Nguyễn Lân Dũng, nhằm cung cấp thêm thông tin về loài vật nuôi mới mẻ này.
    Hải ly tên khoa học là Myocastor coypus hoặc còn có một tên khác nữa là Myopotamus coypus. Hải ly có nguồn gốc Nam Mỹ, từ năm 1956 đã được các nhà khoa học Trung Quốc đưa về nuôi dưỡng ở Trung Quốc và hiện nay đã trở thành loài vật nuôi phổ biến ở nông thôn nhiều tỉnh của Trung Quốc. Tháng 3/1961 tại Hồ Châu tỉnh Triết Giang (Trung Quốc) đã có Hội nghị toàn quốc nhằm trao đổi kinh nghiệm về nuôi Hải ly. Thực ra thì việc nuôi dưỡng nhân tạo hải ly đã được thực hiện từ lâu trên thế giới. Năm 1882 người Pháp đã nhập Hải ly từ Achentina và đã lập trại nuôi dưỡng hải ly từ năm 1890. Việc nuôi hải ly ở quy mô lớn đã được triển khai từ những năm 1926 -1932 tại Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ, Canada, Liên Xô (cũ), Nhật Bản… Vào quãng những năm 50 của thế kỷ XX mỗi năm Achentina đã SX được khoảng 300.000 tấm da hải ly, ở Pháp là 100.000 tấm/năm. Đàn hải ly được nuôi ở Liên Xô (cũ) là vào khoảng 600.000 con. Sang thập kỷ 60 người ta đã thực hiện được trên 10 chủng đột biến của hải ly với những bộ lông có những màu sắc hết sức hấp dẫn và do đó việc nuôi dưỡng hải ly ngày càng phát triển. Vào đầu thập kỷ 80 sản lượng da hải ly đã đạt đến khoảng 700.000 chiếc ở Achentina, 1.250.000 chiếc ở Hoa Kỳ và Canada, 1.000.000 chiếc ở Liên Xô (cũ) và 500.000 chiếc ở Anh, 10.000 chiếc ở Tiệp Khắc (cũ), 1.000.000 ở Ba Lan…
    Mỗi tấm lông Hải ly có giá bình quân khoảng 10 USD, loại có màu sắc đẹp bán được khoảng 15 USD. Thịt hải ly là loại đặc sản quý hiếm, không chỉ giàu protein (20 – 21% trọng lượng tươi), giàu năng lượng (912Kcal/ 100g) mà còn vì hương vị thơm ngon, ít có loại thịt nào sánh nổi. Mỡ của hải ly chiếm 18% thể trọng và dùng để chế biến các loại mỹ phẩm cao cấp. Phủ tạng của hải ly (gan 100 -150 g tim và thận khoảng 50 -70g)không chỉ để ăn mà còn làm thuốc. Mật hải ly ngâm còn có tác dụng tiêu viêm như mật gấu. Đuôi của hải ly được dùng để SX loại chỉ khâu tự tiêu dùng trong phẫu thuật. Phân hải ly dùng làm phân bón hoặc dùng làm thức ăn nuôi cá trắm cỏ.
    Hải ly thường có trọng lượng khoảng 5 – 7 kg, nhưng cũng có con nặng tới 14 – 16kg, con đực thường nặng hơn 10 -20% so với con cái. Chiều dài thân thường vào khoảng 45 -60cm, đuôi dài khoảng 30-35cm. Chân sau có 5 ngón, có màng bơi. Chân trước có 5 ngón nhỏ hơn,không có màng bơi và dùng để đưa sâu cỏ lên miệng (trông giống như cách ăn của sóc). Lông hải ly thường có các màu nâu vàng, nâu, nâu xám, đen xám, vàng, trắng… tuổi thọ của hải ly là 8-9 năm, thời gian thích hợp sinh đẻ là từ 1 -4 tuổi. Mỗi năm thay lông 1 lần, bộ lông vào mùa thu đông đẹp hơn so với mùa xuân hạ.
    Hải ly ưa sống thành đàn, tính khí hiền hậu, dạn dĩ với người nuôi, không cắn người, thích ăn thức ăn động vật, nhất là các loại thủy sinh. Ngoài các loại rau cỏ hoang dại có thể cho hải ly ăn thêm rau muống, rau cải các loại, thân lá đậu đỗ, lạc vừng, thân lá ngô, bèo các loại.. mỗi con trưởng thành mỗi ngày có thể ăn tới 500 -700g thức ăn xanh, ngoài ra cần cho ăn thêm thức ăn tinh (cám gạo, bột ngô, khoai sắn…) khoảng 100- 150g, cũng cần cho ăn thêm khoảng 8 -10 g bột xương và 0,5g muối (nếu dùng bột cá mặn thì không cần muối) Kẻ thù tự nhiên của hải ly là mèo rừng, cáo, chó sói, đại bàng…
    Hải ly có thân nhiệt là 37 -38 độ C. Nhịp tim 70 – 80 lần/phút, nhịp thở 45 – 55 lần phút. Lượng hồng cầu vào khoảng 6, 28 triệu/mm3, lượng bạch cầu là khoảng 9490/mm3, lượng huyết sắc tố khoảng 139g/l, thời gian đông máu khoảng 1,46 phút. Khi bơi lội để không tăng trao đổi chất nhịp tim có thể thấp đi nhiều lần so với bình thường. Hải ly có thể chịu được rét tới 5 độ C và chịu được nóng đến 35 -40 độ C và vì vậy có thể nuôi ở khắp mọi miền ở nước ta. Khi rét thân nhiệt hải ly có thể giảm xuống 2 – 5 độ C. Hải ly có 20 răng, không có răng nanh, ống tiêu hóa rất phát triển, dài tới 6 -7 m, gấp 10 đến 12 lần chiều dài của cơ thể(!). Ở hải ly trưởng thành thức ăn được lưu lại trong ống tiêu hóa khoảng 60 -70 giờ, với Hải ly còn non là 24 – 30 giờ.
    Mức độ bình quân tăng trọng ở hải ly như sau(kg) (xem bảng)
    Tuần lễ Sơ sinh 1 2 3 4 5 6 7 8
    Con đực
    Con cái 0,22
    0,22 0,28
    0,28 0,41
    0,39 0,50
    0,45 0.71
    0,66 0,90
    0,82 1,06
    0,97 1,17
    1,08 1.40
    1,26

    Sau khi nuôi được 7 -8 tháng bình quân hải ly nặng khoảng 4 – 6kg, nếu không để sinh sôi nảy nở thì đã có thể khai thác da, thịt. Sau 4 – 5 tháng tuổi hải ly đã bắt đầu có thể giao phối. Con cái bình thường sau 24 – 36 ngày lại động dục một lần, thời gian động dục thường khoảng 36 – 72 giờ. Thời gian mang thai là 12 – 140 ngày, thường là 132 ngày. Hải ly mỗi lần sinh 4 – 5 con, cá biệt có con sinh tới 17 con (!). Bình thường mỗi năm đẻ 2 lứa, cá biệt có con 2 năm sinh 5 lứa. Hải ly khi mới sinh nặng khoảng 175 – 250g, sau 2 phút mới có tiếng kêu chào đời, sau 20 phút mới bắt đầu bú mẹ, sau 4 giờ bắt đầu di chuyển, có khi đã bắt đầu lội nước, thời gian bú mẹ là 1 – 1,5 tháng nhưng sau 10 ngày đã có thể ăn thêm chút ít thức ăn. Quá 3 – 4 tuổi năng lực sinh sản giảm xuống rõ rệt, vì vậy không nên nuôi quá tuổi này.
    Thường cứ 4 -6 hải ly (1 con đực 3 – 5 con cái) hợp thành một gia đình, tuy nhiên cũng có thể nuôi thành đàn đông tới 100 -200 con cái và 10 -20 con đực. Thường mỗi con cái phải cho giao phối 2 – 3 lần, mỗi lần cách nhau 24 giờ (vì vậy thấy có biểu hiện động dục cần nhốt riêng)
    Chuồng nuôi hải ly thường khô ráo ấm áp, tránh gió lùa. Kích thước 1 chuồng có thể như sau: phòng ở (130 x 90 cm), có cửa rộng 20 cm thông với sân chơi (130 x 250cm), tiếp với sân chơi là bể bơi sâu khoảng 30 – 40 cm, kích thước khoảng 40 – 130cm, có 2 lớp bậc lên xuống, mỗi bậc rộng 10cm. Có thể nối 5 chuồng như vậy lại với nhau. Chỉ cần có mái che nghiêng cho các phòng ở, không cần có mái che cho sân chơi và bể bơi. Bể bơi phải có điều kiện dẫn nước vào và thải nước ra. Tường bao quanh khoảng 60 – 70 cm. Mái che phía sau sát với tường, phía trước gá lên các cọc cao khoảng 80 -90cm. Mỗi chuồng có thể nuôi 1 con đực và 3 đến 5 con cái, hoặc 1 con mẹ và đàn con của nó, hoặc 6 – 8 con 10 – 11 tháng tuổi. Cũng có thể xây 3 phòng ở thông với 1 sân chơi chung và một bể bơi chung. Nên có máng đựng thức ăn có thể nhấc lên được để cọ rửa. Ở nông thôn có thể tận dụng ao hồ, quây một phần ao hồ lại, tạo đường đi thoai thoải dẫn lên chuồng, hai bên đường cũng cần có hàng rào. Hải ly sẽ tự mò xuống ao và tự về chuồng.
    Hải ly không truyền bệnh dịch hạch như chuột. Hải ly chỉ có thể mắc một số bệnh gây nên bởi các loại vi khuẩn như Salmonella, Pasteurella, E.coli, Listeria, Klebsiella… hoặc bệnh cầu trùng (Coccidiosis), bệnh nấm… chữa các bệnh này theo các phương pháp thú y thông thường. Nếu quản lý tốt nguồn thức ăn sạch sẽ thì nói chung hải ly rất ít khi mắc bệnh.
    Một điều làm mọi người rất quan tâm là :Liệu hải ly nếu thoát ra ngoài đồng ruộng có tàn phá mùa màng như tai họa về ốc bươu vàng hay không? Theo tôi là không. Hải ly không bò lên tường được như chuột do đó không dễ lọt ra khỏi chuồng. Hải ly không đẻ ra một khối lượng trứng khổng lồ như ốc bươu vàng . Hải ly có kích thước lớn lại có giá bán rất cao cho nên có lọt ra lập tức sẽ có người bắt ngay. Chúng lại hiền lành, chậm chạp và rất dễ bắt (túm lấy đuôi và nhấc lên)
    GS Nguyễn Lân Dũng
    (Chương trình : Tự nguyện đưa tiến bộ KHKT vào hộ nông dân)

  14. Trang said

    Em sắp lục lọi đến cái đống Ốc bươu vàng rồi. Bác Cave hãy đợi đấy!

    • cavenui said

      Cám ơn bác, tôi đang đợi đây ạ.

      Để tránh mọi sự hiểu lầm có thể xảy ra (tuy rằng sự hiểu lầm nếu có xảy ra thì cũng vô hại), xin thưa với bà con cô bác rằng bác Trang mà tôi đang đợi tin ở đây không phải là bạn Trang The Ridiculous, cũng không phải là bạn Trang Thieu-iot- những người có tên trong blogroll của tôi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: