Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Thư viện

  • Bình luận mới nhất

    Adt on Lại thêm 1 bài không phải…
    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Đọc báo 10/2007 (3)

Posted by cavenui trên Tháng Mười Một 26, 2007

1. Báo Văn Nghệ 27/10 có bài của nhà thơ Hoàng Hưng về trình diễn thơ. Có thể đọc phongdiep.net thay cho mua báo Văn Nghệ. Địa chỉ bài viết ở đây:

http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=3367

Trích vài đoạn tư liệu:

Ở Việt Nam xưa, nếu bình thơ là hình thức đọc thơ phổ biến nhất, thì có thể coi ngâm, ca trù là những hình thức diễn xướng thơ theo con đường nhạc hoá độc đáo của Việt Nam. Thế kỷ XX, ngâm thơ (sau này còn gọi là diễn ngâm) trở nên hình thức diễn xướng thơ chủ đạo, trước khi có sự cạnh tranh của lối đọc diễn cảm bắt đầu từ kháng chiến chống Pháp (với những giọng đọc nổi tiếng như Hoàng Cầm, với biến thể là kiểu tấu như của Thanh Tịnh) đến sau 1954 thì phát triển thành đọc diễn cảm có nhạc đệm ở miền Bắc.

…Ý tưởng và thực hành trình diễn thơ kiểu đương đại mới du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu thế kỉ XXI. Nếu sau này ai viết lịch sử trình diễn thơ, xin đừng quên rằng mở đầu hình thức này chính là những đêm thơ ở quán cafe EraWine (trong Khách sạn Lotus, đường Nguyễn Trãi, TPHCM) năm 2001 do hoạ sĩ Như Huy tổ chức. Màn trình diễn ấn tượng nhất có lẽ là màn Phan Vũ đọc “Em ơi Hà Nội phố”, ông đọc trong tiếng ghi ta ngẫu hứng của Châu Đăng Khoa với tiếng vocal của một bạn diễn; ông đọc hết trang nào lại châm lửa đốt ngay trang đó, như đốt mã cho những ngày tháng, những con người một thời đã ra đi mãi mãi… Cuối năm 2003, thì có hai đêm trình diễn tổng hợp thu hút khá đông người dự tại Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM, nằm trong dự án nghệ thuật “Xuyên biên giới” (Pushing Through Border) do tổ chức Dance Theatre Workshop của Mỹ tài trợ, Ly Hoàng Ly đạo diễn, với hai nhân vật chính là Ly Hoàng Ly và nhà thơ nữ người Mỹ gốc Á Anida Yeou Esguerra và sự tham dự của nhiều hoạ sĩ, nhà thơ, nhà văn, nghệ sĩ múa.

….Ở Hà Nội, có thể nói lần đầu tiên công chúng thủ đô biết đến trình diễn thơ đương đại là đêm thơ Dương Tường cuối 2005 tại l’Espace (Nhà Văn hoá Pháp). Giữa khung cảnh một tác phẩm sắp đặt “73 chiếc cối đá” (tượng trưng số tuổi của nhà thơ) của Nguyễn Minh Thành và tiếng piano ngẫu hứng của Vũ Dân Tân, màn hình chiếu video của Nguyễn Quang Huy, nhà thơ trong “áo bào thơ” do hoạ sĩ Trương Tân thực hiện đọc thơ “con âm” của mình, đọc xong ông xé tập giấy in thơ phân phát cho khán giả và sau đó khán giả đem lại xin ông chữ ký. Câu thơ “chiều buông đầy những thở dài” (Le soir est tout soupirs) của tác giả lập tức nhận được phản hồi từ khán giả: đó là những bài thơ lấy cảm hứng từ câu thơ đó

… Phải đến năm 2007, nhờ các tổ chức văn hoá châu Âu (Hội đồng Anh, Trung tâm Văn hoá Pháp), trình diễn thơ mới liên tục sôi nổi với những đêm đầy ấn tượng ở Hà Nội và TPHCM, trong đó có sự giao lưu giữa một số nhà thơ nổi tiếng của nước bạn (Roger Robinson, Francesca Beard của Anh, Jean-Michel Maulpoix, André Velter của Pháp) với các nhà thơ trẻ Việt Nam (Nguyễn Vĩnh Tiến, Dạ Thảo Phương, Vi Thùy Linh, Trương Quế Chi, Nguyệt Phạm, Phương Lan, Thanh Xuân…) Những buổi trình diễn này thu hút nhiều người trong giới văn hoá, nhất là các bạn trẻ, được giới truyền thông nhất loạt cổ vũ, cho thấy nhu cầu đổi mới cách đưa thơ đến công chúng đã đến lúc đáng quan tâm.

2. Báo TT&VH trong 2 số ngày 24 và 25/10 có bài của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân viết về cuốn Từ điển tiếng Việt mới do Trung tâm Từ điển học (Vietlex) biên soạn. Bài viết tên là “Nhân đọc 1 quyển ngữ vựng mới-bàn về 1 tâm thế biên khảo”.

Nếu như trong các cuốn từ điển tiếng Việt trước, các ví dụ về thực tiễn sử dụng từ hầu như được các soạn giả tự đặt ra, thì ở cuốn mới này, các ví dụ được rút từ thực tiễn sử dụng của những tác giả cụ thể và đó là điều được Lại Nguyên Ân cho là “mới mẻ hơn, công phu nhiều hơn và đáng khích lệ hơn”.

Lại Nguyên Ân cũng chỉ ra những ngộ nhận ấu trĩ của nhóm soạn từ điển, ví dụ xem nhà bác học không biết tiếng Việt Hawking như 1 trong những tác giả được tham khảo và trích dẫn về thực tiễn sử dụng tiếng Việt (lẽ ra người cần nêu phải là dịch giả) hay những “thiên lệch khá buồn cười” khi trích dẫn các tác giả văn chương (ví dụ: Vũ Trọng Phụng có 15 tác phẩm được khai thác, trong khi Vũ Tú Nam có 29 tác phẩm được khai thác; Tản Đà có 8 tác phẩm được khai thác, trong khi Tố Hữu có 42; các nhà văn miền Nam 54-75 rất ít được khai thác, hình như chỉ có Nhã Ca với 1 tác phẩm và Nguyên Sa-2 tác phẩm…).

Song điều Lại Nguyên Ân cho rằng đáng cảnh báo là ở chỗ “tâm thế biên khảo quá thiên về nguồn ngôn ngữ nghệ thuật, trong khi đó gần như bỏ qua nguồn ngôn ngữ luận thuyết, nghị luận; tức là quá chú trọng nguồn ngữ liệu rút từ các sáng tác thơ, truyện, ký… gần như bỏ qua nguồn ngữ liệu rút từ các công trình sáng tạo và thông tin tri thức”.

“Xem thật kỹ bảng thống kê cuối sách mới thấy lẻ tẻ dăm ba tác giả thuộc loại sáng tạo tri thức lọt được vào danh sách này: Đào Duy Anh với duy nhất 1 tác phẩm được khai thác: Việt Nam văn hóa sử cương; Trần Trọng Kim với Việt Nam sử lược; rồi Phạm Quỳnh với 2 tác phẩm Tuyển tập và di cảo, Hành trình nhật ký; Phan Kế Bính với Việt Nam phong tục; Hoài Thanh và Hoài Chân với Thi nhân Việt Nam 1932-1941; và có 1 nhà kinh tế (?) lọt được vào đây: Đặng Mộng Lân với tác phẩm Kinh tế tri thức-những khái niệm và vấn đề cơ bản; 1 nhà giáo lọt v
o đây như 1 tác gia văn chương nghiệp dư: Văn Như Cương với Hoa chanh trái vụ. Tất cả chỉ có thế. Không có các tác giả chính luận, không có các nhà khoa học, không có các nhà nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, phê bình văn nghệ… Không có Trường Chinh và Lê Duẩn, Trần Đức Thảo và Hoàng Xuân Hãn, Cao Xuân Huy và Đặng Thai Mai, Trần Quốc Vượng và Phan Huy Lê, Hoàng Tụy và Phan Đình Diệu, Hoàng Phê và Hoàng Tuệ, v.v và v.v”

Lại Nguyên Ân tạm giải thích cái tâm thế biên khảo ngữ vựng quá thiên về nguồn ngôn ngữ thơ văn:

“Rất xa là thói quen trong tâm lý người xưa xem trọng văn chương, thứ trước đây có thể khiến người ta 1 bước thành quan. Gần hơn là cách đối xử của cơ chế 1 thời chưa xa, theo đó, chỉ người làm thơ viết văn mới được xem là chủ thể của văn học, mới thuộc diện nhân sự được cơ cấu vào các ban bệ của những hội văn chương từ trung ương đến tỉnh thành v.v… “

Advertisements

Một phản hồi to “Đọc báo 10/2007 (3)”

  1. Thieu_iot said

    Bác Lại Nguyên Ân cứ nâng cao quan điểm. Nhiều khi lý do nó đơn giản hơn nhiều. Ví dụ như trường hợp Vũ Tú Nam (hay Tũ Nam, nói tắt theo bác Nhị Linh) được trích dẫn nhiều nhất, em đồ rằng tại vì cuốn gì đó của bác ý để gần tay nhà biên soạn nhất. Mà bây giờ gúc tác phẩm thơ thiếc dễ và nhanh hơn tác phẩm chính luận ạ. Hôm nọ em tìm nguyên văn bức thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước VNDCCH đỏ cả mắt, trong khi một phát ra cả tập Nhật ký trong tù. Đấy, cùng một tác giả còn thế đấy.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: