Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Thư viện

  • Bình luận mới nhất

    Adt on Lại thêm 1 bài không phải…
    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Đọc báo 10/2007 (2)

Posted by cavenui trên Tháng Mười Một 22, 2007

1. Nguyên thứ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường Đặng Hùng Võ nói về quản lý đất đai.

Trên tạp chí Nhà Quản lý 10/2007, ông Đặng Hùng Võ nói về “chồng” và “trống” trong quản lý đất đai.Theo ông Võ, Nhà nước quản lý đất đai bằng 3 công cụ: pháp luật (điều chỉnh việc SD đất trong mối quan hệ giữa Nhà nước, cộng đồng và người sử dụng đất), quy hoạch (xếp đặt mục đích SD đất theo không gian và thời gian sao cho đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, môi trường), tài chính (giá và thuế đất nhằm điều tiết lợi ích từ SD đất giữa Nhà nước, cộng đồng và người SD đất sao cho bảo đảm quyền lợi hợp lý của các bên) thì ở cả 3 công cụ đều có “chồng” và “trống”. Ông Võ giải thích khoảng chồng là “chỗ đầy hấp dẫn nên nhiều người quản lý muốn nhảy vào để quy định sao cho có lợi cho đối tượng nào mà người quản lý yêu mến”, còn khoảng trống là “chỗ khó, nên có thể người quản lý không muốn dính vào, ngại đưa ra các quy định” hoặc có thể “cố ý trì hoãn để vẫn dùng quy định cũ có lợi cho đối tượng nào đó mà người quản lý yêu mến”.

1 ví dụ về “chồng” được ông Võ nêu ra:

Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai quy định: “QSD đất của DN phải được tính giá trị vào giá trị tài sản DN khi cổ phần hóa”. Sau đúng 18 ngày, Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển Cty nhà nước thành Cty cổ phần lại quy định: “Đối với diện tích đất DN cổ phần hóa đang sử dụng thì được quyền lựa chọn hình thức thuê đất hoặc giao đất theo quy định của Luật Đất đai. Trường hợp DN cổ phần hóa lựa chọn hình thức thuê đất thì không tính giá trị QSD đất vào giá trị DN cổ phần hóa”.

Ví dụ về “trống” ô.Võ nêu ra liên quan đến tình trạng đầu cơ quỹ nhà ở hiện nay khiến giá leo thang và người lao động bình thường không thể có nhà. Ô.Võ cho rằng phải sớm ban hành Luật thuế sử dụng đất để đánh với thuế suất cao vào nhà không có người ở, vào người có nhiều nhà ở, vào nhà có chất lượng cao, vào các dự án đầu tư nhưng sử dụng đất chậm tiến độ. Ô.Võ cho biết: “Nghị quyết của BCH TW Đảng có yêu cầu về Luật thuế này, Nghị quyết của QH cũng đôn đốc về Luật thuế này, Luật Đất đai đã quy định về chỗ áp dụng của Luật thuế này… thế mà đến nay vẫn chưa có bất kỳ 1 dự thảo nào để thảo luận”. Vì thế: “Luật mới không có, đất phi nông nghiệp vẫn được áp dụng Pháp lệnh về thuế nhà đất từ năm 92 (có sửa đổi, bổ sung vào năm 94) với mức thuế cao nhất khoảng 2kg thóc/m2 hàng năm cho đất tại những nơi giá đất cao tới cả 1 trăm triệu đồng cho 1 m2. Mức thuế như vậy thì có tích trữ đến hàng nghìn ha đất ở cũng vẫn đủ sức chịu đựng, nhà đầu cơ cực vui mà mọi người lại cực buồn”.

Ô.Võ triển khai tiếp ý đánh thuế này khi bàn về sốt căn hộ chung cư cao cấp trên tờ Sài Gòn Tiếp thị 29/10. Trong 3 lần sốt đất 20 năm qua, nếu lần đầu diễn ra khi “chúng ta chuyển đổi từ cơ chế đất không có giá sang đất có giá do nhà nước quy định”, lần sốt thứ 2 diễn ra khi chuyển đổi từ cơ chế 2 giá đất (giá nhà nước thấp hơn nhiều so với giá thị trường) sang cơ chế 1 giá đất (giá nhà nước phù hợp với giá thị trường trong điều kiện bình thường) thì lần sốt thứ 3 này liên quan đến việc bán nhà trên giấy, nhà chưa được hình thành tại những dự án lớn, từ việc mua bán nhà quá dễ dàng của một số người nhiều tiền… Trước việc có nhiều nhà đóng cửa không sử dụng mà chủ nhà vẫn ung dung giữ nguyên cho mình căn nhà đó, nhiều dự án hoàn thành rồi nhưng nhà ở vẫn mua bán lòng vòng mà chưa ai làm giấy tờ mua bán v.v. ông cựu thứ trưởng cho rằng cấm thì không cấm được, vậy phải đánh thuế cao: “đánh thuế cao theo phương thức lũy tiến từng phần vào những trường hợp có đất nhưng không đưa vào sử dụng, vào diện tích đất ở sử dụng vượt hạn mức theo quy định, vào những trường hợp mua bán nhiều lần trong thời gian ngắn”.

2. Họ nói:

Ô.Vũ Văn Trình– trưởng ban Tín dụng Ngân hàng NN & PTNT nói về những khó khăn trong xử lý tài sản đảm bảo tại 1 cuộc hội thảo về “đăng ký giao dịch bảo đảm và bảo đảm tiền vay” do Hiệp hội ngân hàng VN và Cục đăng ký GDBĐ-Bộ Tư pháp tổ chức:

“Đối với QSD đất và nhà ở thuộc khu vực nông thôn khi phát mãi rất khó bán vì tính cộng đồng, tình làng xóm rất nặng sâu. Sự ủng hộ, giúp đỡ của chính quyền địa phương rất mờ nhạt, thiếu kiên quyết, nhiều trường hợp còn không ủng hộ hoặc gây khó khăn. Tâm lý người dân là ngại va chạm, ngại mua những tài sản của người làm ăn thua lỗ, phá sản. Chi phí cho việc thanh lý, phát mãi tài sản thường rất lớn và thường là ngân hàng phải hạch toán vào chi phí hoạt động… Quá trình xử lý TSĐB của các DN bị phá sản thường rất chậm trễ, trong khi tài sản lại bị khấu hao vô hình và hữu hình rất nhanh. Sự thua thiệt thường là các ngân hàng phải chịu”.

(Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ -cơ quan của Hiệp hội Ngân hàng VN, số 19 ngày 1/10)

Phạm Chi Lan-chuyên gia KT cao cấp:

“Ở các nước, quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định gia nhập WTO
có sự tham vấn tối đa doanh nghiệp. Ở VN, tiếng nói của DN còn quá nhỏ bé, gần như bằng 0. Các DN hầu như không được tham vấn. Trên thương trường thế giới rộng lớn mà WTO mở ra, các DN chỉ như những người lính chạy theo tiếng kèn hiệu lệnh, không đóng vai trò quyết định. Do đó, sự thắng thua được mất của DN trong cạnh tranh khốc liệt khi là thành viên WTO, không thể chỉ đổ lỗi cho DN”.

(Tạp chí Nhà quản lý 10/2007)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: