Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Thư viện

  • Bình luận mới nhất

    Adt on Lại thêm 1 bài không phải…
    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Đọc báo 9/2007 (3)

Posted by cavenui trên Tháng Mười 21, 2007

1

Báo Văn Nghệ 1/9/207 có bài “Đọc chệch Người đua diều” của Nguyễn Bản, người dịch tiểu thuyết Người đua diều, phê phán những nhận xét sai lầm của Lương Xuân Hà (báo Tia sáng số 14 ngày 20/07/2007)về cuốn tiểu thuyết trên.

 

Lương Xuân Hà cho rằng “Người đua diều mang dáng dấp 1 cuốn tự truyện hư cấu”. Thực ra Người đua diều không phải là tự truyện, tác giả-bác sĩ Khaled Hosseini cũng đã khẳng định “tên tuổi, địa điểm và các tình tiết đều là sản phẩm của trí tưởng tượng của tác giả hoặc đã được hư cấu”. Còn việc nhân vật chính xưng tôi chỉ là 1 biện pháp thể hiện thường gặp.

Lương Xuân Hà viết: “Và nhân vật liệu có thể làm gì cho nơi chôn rau cắt rốn của anh ta? Và cho chính anh ta? Nhất là khi anh ta đang trong thân phận 1 kẻ lưu đày, 1 người di cư, 1 kẻ bị đào rễ khỏi môi trường ngôn ngữ mẹ đẻ của mình…”. Cả tác giả Hosseini lẫn nhân vật chính Amir đều trở thành công dân Mỹ, đã hội nhập thành công vào xã hội Mỹ, không thể cuồng chữ gọi họ là “trong thân phận kẻ lưu đày (exiled)” được. Chuyện bị đào rễ khỏi môi trường tiếng mẹ đẻ cũng không có nốt, đọc những đoạn viết về sinh hoạt ở chợ trời San Jose, ngày tết năm mới với các món ăn dân tộc và đua diều ở công viên thành phố San Francisco của cộng đồng người Afghan sẽ rõ.

Lương Xuân Hà viết: “Ông dựng lên những khung cảnh nối tiếp nhau, từ 1 nước Afghanistan êm đềm nhưng hàm chứa những căn bệnh ung thư thời quân chủ…”, nhưng trong suốt cuốn sách, Nguyễn Bản không thấy dưới thời quốc vương Zahir Shah có 1 dấu hiệu mục ruỗng nào, “không thấy vụ tham nhũng hoặc bê bối nào như gần đây ở TQ và một số nước khác”.

Lương Xuân Hà viết: “Dưới ngòi bút của ông, nhân vật chính Amir đã trở thành 1 kẻ chịu khổ nạn”. Nguyễn Bản gọi đó là dựng chuyện vì “nhục hình, tra khảo gì mà chịu khổ nạn (victimized)”. Thật ra, chỉ có sự xung đột tính cách giữa 2 cha con, có lẽ cũng là dụng ý của tác giả để đẩy thêm Amir tới chỗ tị hiềm và hành xử lỗi lầm với Hassan, người bạn, sau này mới biết là em khác mẹ của mình.

Lương Xuân Hà hỏi và trả lời: “Phải chăng vì dân tộc này bị lịch sử lựa chọn 1 cách bất công, là nơi va chạm của các siêu cường?… Nếu như những đau khổ của nhân vật bắt nguồn từ chính cái bất toàn của anh ta, từ sự yếu đuối của chính anh ta, thì sự đau khổ của 1 dân tộc cũng bắt đầu từ chính những bất toàn của dân tộc đó”. Trong tác phẩm, ngoài cuộc xâm lăng của Nga năm 1978, không còn siêu cường nào nữa. Nỗi đau khổ của dân tộc Afghanistan là từ đấy, rồi tiếp đó là từ những tham vọng quyền lực giữa các phe phái chống xâm lược, rồi sự thống trị tàn bạo của Taliban, chứ chẳng do cái triết lý vớ vẩn toàn và bất toàn nào cả.

Nguyễn Bản có điểm thêm vài nhận xét sai lầm nữa của Lương Xuân Hà, nhưng đó chưa phải là tất cả: “… những nhận xét chệch choạc, không ăn nhập với cuốn sách mà tôi không thể nêu hết ra đây vì khuôn khổ bài viết không cho phép”.

2

 

Tạp chí Tia Sáng số 17 ngày 5/9 có bài của họa sĩ Lê Thiết Cương viết về nhiếp ảnh.

Trích vài đoạn:

“Cuốn lịch sử bằng hình ảnh VN 30 năm chiến tranh 1945-1975 rất đồ sộ nhưng hầu hết chỉ là những bức ảnh… gần như ảnh thôi. Ngoài chiến trường thì toàn là hành quân qua suối, qua rừng, tải đạn, đọc thư nhà, chải tóc bên công sự, nghỉ ngơi cười đùa sau 1 trận đánh. Ở hậu phương cũng vậy, nào là ảnh dẫn giải tù binh, lau súng, sẵn sàng chiến đấu, rửa chân tay bên cạnh xác máy bay, đào công sự v.v., ảnh chiến tranh mà lại nguội như vậy thì có nên gọi là ảnh không?… Các nhiếp ảnh gia thời đó đã quá chú trọng đến yếu tố “đẹp” thông qua các kiểu bố cục, ánh sáng, dáng đi, thế đứng cầu kỳ mà quên mất tính chân thực, tính thời điểm là bản chất của nhiếp ảnh và đó mới chính là căn cốt tạo ra “cái đẹp” của nhiếp ảnh”.

“Người ta có thể viết chi tiết, với độ dài 13 trang giấy về cảnh xếp hàng mua thịt hoặc đong gạo vào năm 1980 chẳng hạn nhưng độ thuyết phục của nó làm sao bằng 1 bức ảnh. Năm ngoái, Bảo tàng Dân tộc học VN tổ chức cuộc triển lãm chuyên đề về thời bao cấp… Đó là triển lãm rất thành công nhưng phần yếu nhất của triển lãm này chính là phần hình ảnh. Không phải là Bảo tàng Dân tộc học VN không chú ý đến hình ảnh mà thực ra thì có chú ý, có cố gắng cũng vô ích vì các NSNA trong giai đoạn này chỉ chụp những phong cảnh nhàn nhạt, đèm đẹp chung chung thôi. Đối với họ hình ảnh về cuộc sống, con người, về những cái diễn ra hàng ngày thì lại không đáng chụp, không phải là ảnh và không đẹp… Thêm 1 chương nữa trong cuốn lịch sử dân tộc bằng hình ảnh bị khuyết”.

“Giả sử sau này Bảo tàng Dân tộc học VN lại nảy ra sáng kiến làm 1 cuộc triển lãm nhiếp ảnh về thời kỳ đổi mới, giai đoạn 1985 đến 2005 thì bói cũng chẳng ra 1 bức nào. Trừ những bức ảnh giả kiểu như: anh công nhân cơ khí mặc áo bảo hộ lao động là thẳng nếp đang hàn hoặc các kỹ sư đang bấm nút điều khiển bảng điện tử nhấp nháy xanh đỏ hoặc các thiếu nữ ngồi cười bên máy dệt, hoặc các cô gái đang ưỡn ẹo trên cánh đồng muối…”

3

 

Cũng số báo Tia Sáng 5/9, Châu Quang Phước liệt kê những cái kém cỏi của phê bình phim ở VN.

Phê bình phim theo các giác độ mang tính văn học là chính: đặc biệt hay gặp ở phim chuyển thể từ tác phẩm văn học, những người phê bình phim dùng sự hiểu biết của mình trong các tác phẩm văn học gốc, rồi áp vào điện ảnh. Ví dụ những bài phê bình phim “Mê Thảo-Thời vang bóng” (biên kịch Phan Thùy Nhân, đạo diễn Việt Linh, chuyển thể từ tiểu thuyết Chùa Đàn của Nguyễn Tuân) hay phim “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” (đạo diễn Nguyễn Quang Dũng).

Phê bình phim theo kiểu nệ thực, do chịu ảnh hưởng từ tư duy hiện thực phê phán khá đơn tuyến 1 thời. Ví dụ những tranh cãi quanh phim “Mùa len trâu” hay “Áo lụa Hà Đông”:

“Trong bài phê bình về bộ phim Áo lụa Hà Đông, nhà phê bình văn học Nguyễn Thanh (hình như là Nguyễn Thanh Sơn?-Cavenui) cũng đã có chiều hướng quá sát phạt bằng việc bắt bẻ các chi tiết thuộc về bối cảnh lịch sử của phim. Có thể, phim còn nhiều lỗi sai sót về thời gian lẫn không gian của câu chuyện phim trong hoàn cảnh lịch sử (sự xuất hiện của chiếc áo dài ở đâu và khi nào? Chuyến đi Nam tiến năm 1954 của nhân vật có đúng với hành trình thực tế không? Cuộc nổi dậy của nông dân có hợp lý ở nơi xuất phát hay chưa?…). Nhưng như đã nói, đây dù sao đi nữa cũng chỉ là 1 bộ phim hư cấu, lại càng không phải là 1 phim tiểu sử về 1 nhân vật có thật hay nổi tiếng trong lịch sử”.

Phê bình phim nặng về cảm tính, rất dễ dẫn những người phê bình đến tình trạng áp đặt những nhận định chủ quan. Theo nhà biên kịch Đoàn Tuấn: “Nhìn chung những lời chê này đều có điểm giống nhau là các tác giả đều lấy mình làm chuẩn để rồi cân đong đo đếm tại sao những vấn đề hay cách giải quyết của các nhà làm phim lại không giống mình”.

Nguy hiểm nhất là phê bình phim mang tính quy chụp và suy diễn, nó gây nguy cơ không những giết chết phim mà còn có thể giết cả người làm phim. Ví dụ bài viết 2 kỳ của TS Trần Trọng Đăng Đàn về phim Áo lụa Hà Đông.

Advertisements

8 phản hồi to “Đọc báo 9/2007 (3)”

  1. [deleted] said

    Đ/c Lê Thiết Cương nhận xét vui tính thật. Chiến tranh, cái ăn chưa kịp nhét vào mồm khéo đã die rồi, đi ra khỏi hầm một đoạn, ngoảnh lại đằng sau bạn mình đã trúng bom. Lúc ấy lại còn đủ thời gian bình tĩnh để đưa ra triết lý đèm đẹp hay nhàn nhạt, kể cũng hài

  2. [deleted] said

    Ý mình là nếu người ta không được xem tất cả những bức ảnh thời chiến tranh thì không có nghĩa là nhiếp ảnh có lỗi. Những người có trách nhiệm quản lý các bức ảnh đó là những người có lỗi trong việc để những góc khác của cuộc sống thời chiến tranh mục nát trong kho tư liệu.

  3. Jem said

    Cho phép tôi phản biện ý kiến của bạn Dương nhé. Nhận xét của bạn, nếu đúng, có nghĩa là các nghệ sỹ nhiếp ảnh/phóng viên ảnh VN thời kỳ ấy sợ chết nên chỉ chụp được những thứ nhàn nhạt? Tôi sợ rằng không phải vậy.

    Tôi còn nhớ đã đọc ở đâu đó câu chuyện có nhà báo/quay phim đi theo một tầu chiến của Hải quân Xô viết đã gửi những thước phim quay cuộc chiến đấu với phát xít Đức bằng chai thả xuống biển (tôi chưa kịp thẩm tra tính chính xác của câu chuyện này) và hy sinh cùng với chiến thuyền. Gần đây nhất là nhà báo Nhật bị bắn chết ở Myanmar trong khi tác nghiệp.

    Chẳng nhẽ VN có những nhà thơ nhà văn nhà báo hy sinh ở chiến trường mà không có được những bức ảnh mang tính báo chí ghi lại cảnh chiến đấu? Có lẽ lý do ở chỗ khác, chứ không phải ở cái sự sợ chết đâu, tôi đoán vậy. Hoặc giả tuyển tập đó không tìm được những bức ảnh chiến tranh đúng nghĩa.

    Về ảnh báo chí, xin bàn ở chỗ khác. Cảm ơn Cavenui đã post entry thú vị này.

  4. Jem said

    Bạn Dương: Vậy có thể là tôi và bạn cùng có chung ý nghĩ đó, nhưng cách diễn đạt lúc trước của bạn chưa rõ nên tôi chưa hiểu đúng bạn.

    Tôi cũng cho rằng tính thời sự luôn là tiêu chí hàng đầu của ảnh báo chí, bất cứ ở đâu, trong đó có cả ở chiến trường. Một tác phẩm có giá trị có thể là do vận may, nhưng cũng có những khoảnh khắc không bao giờ lặp lại mà người phóng viên phải “săn”, phải “rình” mới chộp được.

    Những tác phẩm được giải về ảnh báo chí, nói một cách đơn giản, có thể truyền tải được tính thời sự một cách nghệ thuật. Tôi đã được xem một bức ảnh liên quan tới sự kiện cáp treo bị đứt ở Thụy Sỹ (nếu tôi nhớ không nhầm), trên nền tuyết trắng là một chiếc găng tay (có thể là của người điều khiển cáp treo) thấm máu, không có chết chóc hiện hình nhưng thực sự rùng mình.

  5. [deleted] said

    @Jem : Ở góc độ PV chiến trường thì tính thời sự được yêu cầu cao hơn tính nghệ thuật nhiều. Đặc thù khác là không gian và thời gian không cho phép anh được quyền ngắm nghía gì nhiều, nên nếu có được một tấm hình vừa mang tính thời sự vừa mang tính nghệ thuật là rất hiếm hoi.
    @One : Anh nghĩ là bất kể thời nào, giờ cũng thế thôi, vẫn có đầy cảnh khổ cực, bất công chứ, nhưng người ta vẫn chụp những nụ cười rạng rỡ nhiều hơn. Nếu muốn thì vẫn có thể có được những bức ảnh êề cái ưự khổ kia, tuy nhiên ở góc độ tưoởng thức thì xem một tấm ảnh khổ sở nhăn nhúm sẽ không mang lại cảm giác sung sướng gì đối với người xem.

  6. Thieu_iot said

    Văn học và điện ảnh thì em không dám nói gì nhưng nhiếp ảnh và Mr. Lê Thiết Cương thì có. Em mới đi xem triển lãm Hanoi 80.00 ở gallery 39 Lý Quốc Sư, bộ sưu tập ảnh Hà Nội những năm 80 của Eva Lindskog và Hà Nội những năm 00 của Mr. Lê. Ảnh của Eva rất quý, quý vì bảo quản tốt (màu rất đẹp), quý vì góc nhìn sến và nhân hậu (gái mà), quý vì hiếm (quầy hàng Tết, tàu điện). Còn ảnh của Mr. Lê thì bình thường, em chụp còn đẹp hơn (ôi, mình nói thế có bị coi là cuồng ngôn không nhỉ?!).

    Lảm nhảm tiếp cái ý về nhiếp ảnh, đúng là ảnh trong những năm kháng chiến chống Mỹ có một cái phong cách lạc quan XHCN lắm. Nhân vật lúc nào cũng phải cười. Đói khổ bỏ xừ mà cứ cười tươi quá, dễ bị đời sau nghi ngời. Còn từ năm 1985 đến 2000 thì đúng là không có nhiều ảnh tư liệu đời sống, nhiếp ảnh gia thì không chịu chụp những thứ bình thường (xem triển lãm ảnh nào cũng chừng ấy phong cách, nản ra phết), dân thì không đủ tiền chơi ảnh. Thời đó máy ảnh xa xỉ quá, người có máy ảnh cũng chả dám vãi phim mà chụp những bức không có chân dung người thân bạn bè nào trong ảnh. Em chụp có 1-2 bức theo lối “ảnh đời thường” bị mẹ em mắng lên xuống. Sau năm 2000 thì nhiều ảnh hơn vì lúc đó có máy digital rồi. Nhưng đúng là những người cầm máy ở Việt Nam phần nhiều vẫn ưa những thứ “đẹp” theo lối nhẵn nhụi. Các con giời mua Canon 350D, 400D, ống này ống kia, chỉ để chụp chim cây hoa gái. Còn cảnh sinh hoạt đời thường thì không nhiều người chụp, vì khó đẹp theo lối thông thường, có bạn còn chê thẳng cánh cò bay là nhếch nhác. Em hình như là một trong những người cầm máy ưa những thứ nhếch nhác. Nhiều lúc nhìn topic ảnh trên Tathy, thấy ảnh mình so với các bác cứ như cú so với công, nhưng cũng tự thẩm du là “có hồn”, mặc dù hồn là cái gì thì em cũng chả biết.

    (Đụng đến sở thích nên em nói nhảm tí, chị Núi đừng cười).

  7. Thieu_iot said

    Comment xong mới thấy lời bác Lai Thái Dương. Em nghĩ bác Lê Thiết Cương muốn nói rằng những cái khắc nghiệt ác liệt với lại đói và dễ chết nó không thể hiện rõ trong ảnh của nhiếp ảnh gia Việt Nam. Em cũng có xem nhiều ảnh liên quan đến Việt Nam thời kỳ 1954-1975, thấy thích ảnh của các tác giả nước ngoài hơn. Cái này chắc phải viết bài dài dòng, chứ không comment, chứ để chị Núi nhìn cái comment toàn chữ là chữ dài cả gang tay thì nó cứ thế nào!

  8. Về “Người đua diều” em giơ tay xin phép phát biểu tí vì cuốn này em mới đọc xong. Em nghĩ nhận xét của Lương Xuân Hà có lẽ đã quá sa đà vào phân tích những hoàn cảnh lịch sử và xã hội về căn bản chỉ đóng vai trò nền cho câu chuyện của Amir. Tất nhiên những bối cảnh nền này, cả những biến động xã hội hay những chấm phá về phong tục tập quán và cuộc sống hàng ngày của Amir đã ít nhiều cho người đọc cơ hội tiếp cận gần hơn với một xã hội Hồi giáo hiện đại Afghanistan, một xã hội, một dân tộc mà trước đây có lẽ thế giới còn có quá ít thông tin hay có những nhìn nhận thiếu khách quan về nó.

    Theo thông tin từ cuốn sách thì cho tới nay Khaled Hosseini là nhà văn Afghanistan duy nhất viết bằng tiếng Anh.

    Vài dòng cảm tính của em.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: