Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Thư viện

  • Bình luận mới nhất

    Adt on Lại thêm 1 bài không phải…
    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Đọc báo 9/2007 (2)

Posted by cavenui trên Tháng Mười 17, 2007

Tiếp tục chuyện lạm phát. Thật ra thì em chẳng biết gì nhiều về lạm phát đâu, trích dẫn vài bài dưới đây là để dụ bạn Noy và các chiến hữu vào chơi.

1

Tháng trước bạn Noy có bênh ông Nguyễn Đại Lai phản đối ông Phan Minh Ngọc xung quanh chuyện TTCK và lạm phát. Theo bạn Noy, TTCK nên coi như 1 thị trường tiết kiệm và VND chạy khỏi TTCK được hiểu là chuyển dịch từ tiết kiệm sang tiêu dùng, nghĩa là có gây áp lực lạm phát. Ông Ngọc phản bác ông Lai cũng chính ở quan niệm ấy về TTCK, ô.Ngọc không coi TTCK là savings mà là “1 trong nhiều kênh dẫn vốn từ các nhà đầu tư đến những người sử dụng cuối cùng (các nhà SX, KD), chứ không phải là 1 cái ao tù, nước chảy vào rồi tích lại ở đó”.

Coi như là giữa ô.Ngọc 1 bên, ô.Lai và ô.Noy 1 bên, có cách hiểu khác nhau về TTCK. Từ đó dẫn đến quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa TTCK với lạm phát thì cũng không có gì là lạ. Chuyện này đến đây không nói nữa.

Nhân nói đến ông Phan Minh Ngọc, Cavenui trích giới thiệu bài viết “Lạm phát ở VN: cần những quan niệm đúng đắn hơn của ông trên Tạp chí Ngân hàng (Banking Review) số 18 (9/2007). Bài viết này cũng như bài viết phản bác ô.Lai (Cavenui đã đọc, nhưng không giữ, hình như cũng trên Tạp chí Ngân hàng) đều mang tính luận chiến:

– Ô.Ngọc phản đối việc lấy mức tăng trưởng GDP làm 1 mốc giới hạn cho lạm phát:

“Có thể giữa lạm phát và tăng trưởng có 1 mối quan hệ nhất định nào đó (chẳng hạn có nghiên cứu thực chứng cho rằng quan hệ này là phi tuyến tính), nhưng hoàn toàn không có cơ sở để nói rằng 1 nền KT gọi là tăng trưởng bền vững thì lạm phát cần phải thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP (thậm chí có người còn cho rằng “theo kinh nghiệm quốc tế’, lạm phát thấp hơn tăng trưởng GDP 1-2% là được).

Nói cách khác, không thể lấy mức tăng trưởng GDP làm mốc giới hạn trên cho lạm phát, vì GDP của VN không phải luôn chỉ có tăng trưởng quanh quẩn ở mức tương đối cao (7-9%), mà hoàn toàn có thể tụt xuống 4-5% hoặc thấp hơn nữa,như đã từng xảy ra trong quá khứ không xa xôi gì… Việc trói lạm phát trong hạn mức tăng trưởng GDP (trong trung và dài hạn) như vậy quả là 1 việc làm phi khoa học và nguy hiểm, vì lạm phát ở mức 2-3% sẽ đặt ra những vấn đề hoàn toàn khác với mức 8-9%…”

– Ô.Ngọc phản đối quan niệm lạm phát và tăng trưởng chỉ được chọn 1:

“Đã có 1 bài phỏng vấn 1 quan chức cấp cao với dòng tít lớn: “Không thể đổi tăng trưởng để kiềm chế lạm phát!”. Thực chất, mấu chốt là vấn đề chất lượng tăng trưởng… Với năng suất tổng yếu tố (TFP ) không đổi, giảm đầu tư (ví dụ, để kiềm chế lạm phát) thì đương nhiên sẽ dẫn đến tăng trưởng GDP giảm. Nhưng nếu giảm đầu tư đi đôi với các biện pháp cải thiện TFP thì GDP vẫn có khả năng tăng trưởng cao (đặc biệt khi tăng trưởng TFP đang ở mức rất thấp như ở VN)… Còn làm thế nào để cải thiện TFP thì đã có nhiều bài viết đề cập đến”.

– Ô.Ngọc phàn nàn rằng các chính sách của CP nhiều khi hướng đến những mục tiêu mâu thuẫn nhau, như giảm bội chi ngân sách, tăng cường phát hành trái phiếu CP và đẩy mạnh tốc độ giải ngân các dự án đầu tư, thắt chặt tiền tệ, ổn định tỷ giá và lãi suất, giảm thuế nhập khẩu, giảm nhập siêu, tăng cường xuất khẩu…

“Tăng cường phát hành trái phiếu CP và đẩy mạnh giải ngân các dự án đầu tư chắc chắn sẽ dẫn đến mức thâm hụt ngân sách tăng. Cần lưu ý thêm rằng thâm hụt ngân sách là 1 nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát. Và vì tiền rút về từ lưu thông qua phát hành trái phiếu CP để rồi lại đổ vào các dự án đầu tư của CP (tức là đổ vào lưu thông) nên việc phát hành trái phiếu và đẩy mạnh giải ngân sẽ không giúp ích gì cho việc chống lạm phát, nếu không muốn nói là có tác dụng ngược lại. Tăng chi tiêu CP cũng sẽ góp phần làm tăng nhập siêu”.

“Thắt chặt chính sách tiền tệ dù bằng các nghiệp vụ thị trường mở hay nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đều dẫn đến kết cục là lãi suất tăng lên, khi nguồn ngoại hối tiếp tục tăng mạnh trong bối cảnh tỷ giá được giữ ổn định. Ngược lại, nếu muốn giữ ổn định lãi suất trong bối cảnh này thì VND phải được định giá cao lên. Như vậy, trong hoàn cảnh hiện tại của VN, khó có thể ổn định đồng thời cả lãi suất lẫn tỷ giá”.

“Giảm thuế nhập khẩu sẽ góp phần làm tăng nhập siêu vì hàng hóa nước ngoài trở nên rẻ đi tương đối so với hàng trong nước, khuyến khích nhập khẩu và giảm xuất khẩu. Ngoài ra, khi lạm phát của VN được chấp nhận dễ dãi ở mức gần tương đương với tăng trưởng GDP (tức là khoảng 7-8%) trong khi lạm phát của Mỹ ở mức thấp xa so với con số này, vô hình chung VND đã lên giá quá nhiều so với USD, và mức lên giá này càng mạnh theo thời gian. VND lên giá càng làm tăng thâm hụt cán cân vãng lai. Nói cách khác, ở đây ta cũng thấy rõ mâu thuẫn giữa các mục tiêu đề ra ở trên”.

-Khác với phần lớn các chuyên gia, ô.Ngọc cho rằng ở 1 mức cắt giảm nào đó, giảm thuế nhập khẩu có thể có tác dụng làm giảm lạm phát:

“Các quan điểm này vẫn là phiến diện khi bỏ qua 1 tác dụng hết sức quan trọng của việc giảm thuế là sự tăng cường tính cạnh tranh của các DN trong nước khi họ buộc phải tìm cách hạ giá thành sản phẩm trước áp lực xâm nhập thị trường của sản phẩm nhập khẩu. Nếu tình trạng này không xảy ra thì chỉ bởi đơn giản 1 điều là mức giảm thuế vẫn chưa đủ để làm các DN trong nước chùn bước trong việc tăng hoặc giữ nguyên giá bán cao. Tình trạng đang xảy ra trên thị trường ô tô là 1 minh chứng. Cắt giảm 10% thuế có thể coi là quá ít ỏi để ô tô ngoại cạnh tranh được với ô tô nội. Nếu giả sử mức cắt giảm này là 50%, chắc chắn tình hình sẽ khác đi nhiều, và CP chẳng phải nhọc công đi “vận động” các DN ô tô trong nước giảm giá bán”.

2

Hầu hết các chuyên gia kinh tế đăng đàn về lạm phát gần đây đều khẳng định nguyên nhân tiền tệ của lạm phát và từ đó, giải pháp phải là giải pháp tiền tệ chứ không phải các chính sách tài khóa. Ví dụ như ông Nguyễn Hoài Bảo (hình như là dân Fulbright đệ ông Năm Xu) trong bài “Cần phân biệt giá cao và lạm phát” đăng trên SGTT 26/9.

Đọc bài của ô.Bảo có thể thay cho đọc 3-4 bài vì ông có liệt kê những quan điểm khác nhau hiện nay về lạm phát:

“Có ba nhóm ý kiến chính:

Thứ nhất , lạm phát cao bắt nguồn từ tỷ trọng của một số hàng hoá thiết yếu trong rổ hàng hoá tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là quá cao và có thể đã lỗi thời. Ví dụ nhóm lương thực thực phẩm chiếm đến 47,9% trong cơ cấu tính CPI. Và vì thế cần thay đổi lại tỷ trọng này. Nếu thế thì nền KT không có vấn đề gì phải lo ngại. Lạm phát chẳng qua là do cơ quan thống kê tính nhầm và giải pháp là sửa cách tính toán đó.

Hoặc giả, cho dù đã tính đúng, chúng ta cần một chỉ số giá hoàn hảo hơn để biết chính xác lạm phát của nền kinh tế biến động như thế nào, thì cần phải có một chỉ số gọi là lạm phát cơ bản (core inflation). Chỉ số này loại trừ đi những ảnh hưởng biến động bất thường hoặc mùa vụ của các hàng hoá quan trọng như lương thực thực phẩm hay dầu mỏ để thấy được xu thế chính của lạm phát. Nhóm ý kiến này không còn được ủng hộ mạnh bởi vì cơ cấu rổ hàng hoá trong CPI của VN không khác gì những nước có trình độ phát triển, chẳng hạn như Ấn Độ, và thậm chí là Thái Lan. IMF cũng tính toán lạm phát cơ bản của VN và thấy rằng nó vẫn cao hơn nhiều nước trong khu vực.

Thứ hai , lạm phát bắt nguồn từ những cú sốc ngắn hạn, chẳng hạn như giá dầu trên thế giới tăng cao và từ đó dẫn đến các sản phẩm có liên quan đến dầu cũng tăng cao, ví dụ như thép, sợi, xi măng… và nó làm cho lạm phát tăng. Thế nhưng, nhóm ý kiến này không thể trả lời được rằng, tại sao các nước lân cận, cơ cấu sản xuất cũng khá giống VN, chẳng hạn như Thái Lan, TQ cũng đối diện với tình hình giá dầu cao như chúng ta thì họ không gặp phải vấn đề lạm phát? Hơn nữa, nếu là 1 cú sốc về giá dầu thì giá cả chỉ tăng lên một lần chứ không thể nào kéo dài mãi gần bốn năm như vậy.

Thứ ba là bắt nguồn từ lượng tiền tăng lên nhanh chóng từ chương trình kích cầu của CP kể từ sau khủng hoảng tài chính của các nước Đông Á năm 97 và gần đây là một lượng lớn ngoại tệ đổ vào VN. Cho dù thâm hụt ngân sách của VN luôn được giữ ở mức thấp hơn 5% theo cam kết với IMF nhưng tỷ trọng đầu tư của VN lại là 1 trong những nước cao nhất thế giới (39,4% GDP).

Sự không độc lập của NHNN đã ủng hộ thêm lập luận rằng chính họ đã “tài trợ” cho ngân sách của CP và từ đó làm tăng khối lượng tiền trong lưu thông. Việc kiềm giữ để VND không tăng giá nhằm tạo thuận lợi cho xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài cũng đã làm cho khối lượng tiền trong lưu thông tăng lên trong bối cảnh dòng vốn FDI đang ào ạt đổ vào.

Đây là lập luận có tính logic cao nhất vì lạm phát luôn là một hiện tượng của tiền tệ. Nếu giá cả hàng hoá này tăng, thì giá cả hàng hoá khác phải giảm vì người dân sẽ thay đổi cơ cấu tiêu dùng của mình trong khoản tiền nhất định mà họ có. Trừ phi, số tiền đó tăng lên thì tất cả giá cả mới tăng lên được. (Bạn Noy thử bình luận ý này, nếu những mặt hàng cực kỳ thiết yếu tăng giá, sẽ có chuyện rút tiền cất dưới gối đưa vào lưu thông?)”.

Ô.Bảo cho giảm thuế nhập khẩu là biện pháp vô ích:

“Gần đây lại có lập luận rằng, thuế suất nhập khẩu của Việt Nam đang cao và nó như là một nguyên nhân của lạm phát. Lập luận này là một nhầm lẫn cơ bản. Việc thuế suất cao chỉ gây ra mức giá trong nước cao hơn mức giá thế giới chứ không thể tạo ra sự tăng giá để rồi lạm phát. Lạm phát là sự tăng lên liên tục của giá cả tổng quát trong nền kinh tế.

…Ví dụ, nếu thuế suất nhập khẩu là 1.000% thì người dân trong nước phải trả cho món hàng nhập k
hẩu với mức giá cao gấp 10 lần giá thế giới chứ không phải là hàng năm giá của hàng hoá đó tăng lên 10 lần được.

Khi hội nhập, thuế suất nhập khẩu theo thời gian là giảm xuống. Điều này không có nghĩa là lạm phát theo thời gian cũng sẽ thấp dần. Không cần chứng minh bằng số liệu, chúng ta cũng có thể hình dung rằng, thuế suất nhập khẩu trung bình của Việt Nam trong những năm trước năm 2004 chắc chắn là cao hơn bây giờ, thế nhưng trong thời gian đó có lúc (năm 2000) Việt Nam đang giảm phát (-1,6%).

… Những trục trặc trong nền kinh tế đều có công cụ sửa chữa riêng của nó. CP có thể dùng công cụ thuế khoá của mình để giúp giảm lạm phát, nhưng nó chỉ có tác dụng trong nhất thời chứ không giải quyết được căn cơ. Nguy hại hơn, giảm thuế lại là nguyên nhân của lạm phát trong tương lai. Giảm thuế hay tăng chi tiêu CP chỉ là 2 mặt của một vấn đề. Trong ngắn hạn, nó tạo ra tăng trưởng thu nhập, trong dài hạn nó làm tăng lạm phát. Giảm thuế nhập khẩu, cho dù theo lộ trình hội nhập hay là vì mục tiêu nào đó của chính phủ là một câu chuyện khác, cần một phân tích khác, nó không có nhiệm vụ giảm lạm phát”.

3

Bài của ông Nguyễn Đức Thành trên tạp chí Tia sáng số 18 ngày 20/9 tên là “Nguyên nhân tiền tệ của lạm phát”, các ý được sắp xếp rất mạch lạc.

Ông Thành vẽ con đường lạm phát ở VN như sau:

– Tăng trưởng mạnh mẽ của các dòng tiền từ nước ngoài (FDI, kiều hối, đầu tư gián tiếp). Ở Đông nam Á, kiều hối của VN chỉ đứng sau cường quốc xuất khẩu lao động Philippines, nhưng khác với Philippines phải trả lãi vay nước ngoài tương đối lớn, cán cân tư bản của VN thặng dư đáng kể, dư thừa ngoại hối hơn Philippines nhiều.

– Để giữ tỷ giá neo tương đối ổn định vào USD, cơ quan tiền tệ VN đã liên tục mua lượng ngoại hối thặng dư trên thị trường. 6 tháng đầu năm 2007, cơ quan tiền tệ VN đã mua vào khoảng hơn 7 tỷ USD (14% GDP), làm tăng mạnh lượng tiền Việt được đưa vào lưu thông. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây nên lạm phát.

– Cũng thặng dư ngoại tệ, cũng can thiệp để neo nội tệ ổn định vào USD nhưng TQ không có tình trạng lạm phát cao vì họ thắt chặt tăng trưởng tiền tệ và tín dụng (từ 2004, tăng trưởng tín dụng và tiền tệ chỉ vào khoảng 15% mỗi năm). Trong khi VN không thực hiện điều này, tăng trưởng tiền tệ vốn ở mức cao (20%) năm 2001, lại còn tăng nhanh hơn trong 2 năm 2004 và 2005. Tín dụng còn được mở rộng và tăng nhanh hơn nữa.

– Kết quả, lạm phát đã thành hiện tượng kinh niên (ở mức cao, trên 8%) kể từ năm 2004.

Ô.Thành khuyến nghị những giải pháp:

– Các chính sách chống lạm phát phải mang tính tiền tệ, hạn chế sử dụng chính sách tài khóa hay hành chính.

– Gốc rễ của các biện pháp là giảm tốc độ tăng tiền và tín dụng. Các biện pháp như tăng dự trữ bắt buộc hay phát hành trái phiếu chỉ nên coi là tức thời và cục bộ.

– Công khai các biện pháp cụ thể để thực hiện cam kết chống lạm phát của CP, giúp người dân hình thành kỳ vọng về mức lạm phát thấp trong tương lai (1 chính sách chỉ có hiệu lực khi người ta tin là nó có hiệu lực).

– Không nên duy trì quan điểm lạm phát thấp hơn mức tăng trưởng GDP là tốt, không nên ràng buộc lạm phát vào 1 giới hạn khá dễ dãi (8%) để rồi lại bị cuốn vào nỗi lo con rồng sẽ giật đứt dây xích như hiện nay.

Advertisements

3 phản hồi to “Đọc báo 9/2007 (2)”

  1. Tề Phi said

    Mới đọc phần 1 của bác Núi, đồng ý với hầu hết các nhận xét của ông Ngọc. Tuy vậy:

    – Về chất lượng tăng trưởng: đây là vấn đề lúc nào cũng cần, nước nào cũng cần, nhưng không ai giải quyết trong khoảng ngắn hạn được. Vì thế lúc gặp khó khăn về lạm phát mà đem vấn đề này ra thì thường là để phục vụ mục đích kêu gọi (cũng rất cần thiết) nhiều hơn là giải quyết thực tiễn.

    – Tại sao phải ổn định lãi suất? Tăng lãi suất (1 lần) thì có tính là ổn định không? Như ông Ngọc và hầu hết các nhà phân tích đồng thuận về nguyên nhân tiền tệ của lạm phát, thì việc lãi suất tăng là chuyện tất yếu. Thực ra, đây chính là đầu mối của các công cụ tiền tệ. Câu hỏi chỉ là chuyện có giữ tỷ giá cố định hay không thôi.

    – Ý ông Ngọc chắc là nói “thâm hụt cán cân thương mại”. Cán cân vãng lai không sao, có khi còn thặng dư.

    – Ông Ngọc có một số nhận định chưa được chuẩn xác, như “Cần lưu ý thêm rằng thâm hụt ngân sách là 1 nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát.” Cũng giống như có hiện tượng A –> B, A –> C –> D, rồi từ đấy ông nói “B là nguyên nhân quan trọng gây ra D”. Về mặt khái niệm, thảo luận trong hệ thống đầy đủ có lẽ vấn hơn.

    Tôi đồng ý với nhận định giảm thuế có thể giảm lạm phát của ông Ngọc. Về cơ bản, giảm thuế ngoài chuyện giảm mặt bằng giá (cái này không ảnh hưởng lạm phát trung hạn) còn tăng cung, dẫn đến giảm sức ép tiền tệ. Nhưng có lẽ phải tập trung vào giảm thuế những ngành chiếm tỷ trọng cao trong CPI. Như ông Ngọc nói, giảm thuế ô tô quá ít, 2 thị trường ô tô nội và ngoại lại không chung chạ nhau lắm, nên không đủ để ảnh hưởng đến giá trong nước. Vả lại nếu có giảm giá ôtô trong nước 10%, tôi nghĩ cũng không ảnh hưởng gì nhiều lên CPI. Giảm thuế sữa, thuế đường, thuế/quota thuốc thì hơn. Có điều là mấy ngành đấy sức mạnh chính trị lớn quá.

    Từ từ đã, những phần khác sẽ đọc sau.

  2. Linh said

    Về ý thị trường chứng khoán, tớ thấy bình thường thì ông Ngọc có lý nhưng thời gian vừa qua thị trường chứng khoán ở Việt Nam là một hiện tượng bất thường làm tăng đột biến dòng tiền vào nước và sau đó là ra ngoài lưu thông nên bạn Noy và ông Lai lại có lý trong việc này.
    Về việc phát hành trái phiếu chính phủ để rút tiền trong lưu thông, tôi cũng nghĩ đây là việc không nên vì như thế là làm mất sự độc lập của chính sách tiền tệ, và cũng chỉ có tác dụng kiểu giật gấu vá vai, vì đúng như ông Ngọc nói về lâu dài thì lạm phát sẽ tăng do sự chi tiêu đầu tư. Nhưng trong ngắn hạn thì biện pháp này vẫn có thể có tác dụng giảm lạm phát trong năm 2007 chẳng hạn
    Tớ hơi nghi ngờ về việc giảm thuế nhập khẩu có thể làm giảm lạm phát. Đúng là giảm thuế có thể giảm lạm phát trong ngắn hạn nhưng nó không có tác dụng trong trung hạn trừ khi việc giảm thuế ấy là biện pháp cơ bản, kéo dài chứ không phải là giải pháp tình thế. Hơn nữa việc giảm thuế sẽ làm phức tạp chính sách thương mại, thay vào việc áp dụng một lộ trình rõ ràng và ổn định về tự do hóa thương mại thì chính sách đấy sẽ làm cho quá trình này trở nên lộn xộn và tùy tiện.
    Nói chung, giải pháp cơ bản vẫn chỉ ở chính sách tiền tệ và tỷ giá. Chính sách tỷ giá hiện tại tạo ra quá nhiều sức ép tới lạm phát.
    À mà không biết việc duy trì lạm phát thấp hơn tăng trưởng là ở đâu ra nhỉ, Quốc Anh có biết không? Mà không rõ ở Việt Nam có nghiên cứu nào từng thử kiểm định cái Taylor’s rule không nhỉ?

  3. Tề Phi said

    Chuyện giảm thuế tốt hay là giảm tiền tốt bắt gốc rễ từ chuyện lạm phát do cung hay do cầu. Tôi nghĩ là ảnh hưởng của cung lên lạm phát thời điểm hiện nay là khá lớn, nên giảm thuế có thể có tác dụng được. Nó không chỉ giảm giá 1 lần như bác Linh hay ông Bảo nói, mà quan trọng hơn là nó tăng cung sản phẩm lên, thị trường dễ lấy lại cân bằng hơn. Đấy là tac dụng chính của giảm thuế lên lạm phát, chứ không phải là chuyện cắt giá 1 lần. Thường những bài viết lý luận “giảm thuế không có tác dụng” thực ra trước đó đã đặt giả thiết ngầm là lạm phát tất cả chỉ vì cầu mà thôi. Như thế coi như tự giả thiết luôn kết luận rồi. Ví dụ về lạm phát xuất phát từ cung có nhiều, mà nổi bật là 2 đợt khủng hoảng toàn cầu năm 1974 và 1979.

    Còn đoạn lý luận mà bác Cavenui hỏi, tôi nghĩ là cách lý luận khá thô sơ và nhầm lẫn về cung cầu, nói chung không chính xác. Nếu các mặt hàng thay thế cho nhau (substitutable) chứ không phải bổ sung nhau (complementary), thì việc tăng giá 1 mặt hàng đúng là dẫn đến việc chuyển tiêu dùng khỏi mặt hàng đó, dẫn đến tăng cầu (demand) mặt hàng kia. Tăng cầu, thì dẫn đến tăng giá chứ không phải là giảm. Nên nhìn chung nếu 2 mặt hàng có thể thay thế nhau (không cần thay thế 100%), thì tăng giá 1 mặt hàng dẫn đến tăng giá chung chứ không phải là giữ nguyên giá. Mà thông thường thì các mặt hàng tổng thể mang tính thay thế nhau nhiều hơn là bổ sung.

    Tôi phải đi bây giờ, sẽ nói về tiết kiệm sau. Tiết kiệm thì đặc biệt hơn hàng tiêu dùng thông thường, vì nó dính đến tiêu dùng trong tương lai. Tạm thế này đã.

    Không hiểu sao bác Linh lại không chấp nhận phát hành trái phiếu? Đấy là phần cơ bản của open market operations mà, nếu muốn sterilize vụ bơm tiền thì đấy là cách duy nhất.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: