Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Thư viện

  • Bình luận mới nhất

    Adt on Lại thêm 1 bài không phải…
    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Đọc báo 9/2007

Posted by cavenui trên Tháng Mười 16, 2007

1

Tạp chí Xưa&Nay số 291 (9/2007) có bài của Dương Danh Dy giới thiệu cuốn “Những câu chuyện của Triệu Tử Dương khi bị giam lỏng” của Tôn Phượng Minh (nguyên Bí thư Đảng ủy Học viện Hàng không TQ) in ở NXB Mở Cửa (Hongkong) lần đầu ngày 31/1/2007 (đến 28/3 đã tái bản lần 4).

Triệu Tử Dương (1919-2005) từng giữ chức Thủ tướng rồi Tổng bí thư Đảng CS TQ, chủ trương tân chính “cải cách, mở cửa”, vì phản đối việc trấn áp bằng vũ lực những sinh viên biểu tình ở Thiên An Môn 6/1989 mà bị bãi chức, bị giam lỏng tới lúc chết, trở thành nhân vật truyền kỳ kiểu Trương Học Lương.

Tôn Phượng Minh nói với những người canh gác cửa rằng mình là thầy dạy khí công nên đã vào gặp được Triệu Tử Dương hơn 100 lần, ghi chép lại những điều Triệu trò chuyện thành 81 đầu đề câu chuyện, cuốn ghi chép dày 420 trang chữ TQ cỡ nhỏ và 33 trang ảnh.

Tóm tắt của Dương Danh Dy về cuốn sách:

Cuốn sách ghi chép lại những phát biểu của Triệu về cuộc đấu tranh quyền lực trong nội bộ Đảng CS TQ, Đặng Tiểu Bình đã buông rèm coi việc nước như thế nào, quan hệ giữa Triệu và Hồ Diệu Bang, nguyên nhân thực của việc Triệu mất chức, việc gửi thư cho Đại hội 15, phân tích nhằm thẳng vào việc TQ đi theo chủ nghĩa tư bản quyền quí, cũng như phê bình Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào. Ngoài ra còn có những phản tỉnh, phê phán về lý luận và lịch sử chuyên chính của Đảng CS, đề xuất chủ trương cải cách chính trị TQ về nhiều mặt như khởi mông tư tưởng, dân chủ nghị viện, liên bang tự trị v.v.. Cũng có những kiến giải độc đáo về quan hệ Trung Mỹ, diễn biến của Liên Xô và vấn đề Đài Loan.

Bài viết của Dương Danh Dy giới thiệu một số mục trong 81 mục của cuốn sách, ví dụ một số mục ở phần đầu (ghi trong giai đoạn từ 1991 đến khi Triệu Tử Dương gửi thư cho Đại hội 15):

4/ Ngày 12/4/92: những nước lạc hậu sau khi cách mạng thắng lợi không thể thực hiện CNXH, một số cách nhìn về chuyến tuần du phương nam của Đặng Tiểu Bình

5/ Ngày 5/9/1992: Những tương tự lịch sử giữa Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình lúc cuối đời.

11/Ngày 3/4/1993: Người già lãnh đạo: đặc sắc của lãnh đạo chính trị TQ. Phân tích của Marx về chủ nghĩa tư bản không phù hợp với sự thực.

12/ Ngày 28/4/1993: Phải giải quyết vấn đề chế độ sở hữu. Bi kịch của Stalin, Mao Trạch Đông là ở chỗ không được học tập bổ sung về CNTB.

15/Ngày 31/5/1993: Hai tay chính trị, kinh tế của Đặng đều cứng rắn cả. Giam lỏng là vi phạm điều lệ Đảng.

20/ Ngày 14/12/1993: Nhìn lại lịch sử cận đại TQ, phê phán chủ nghĩa xã hội utopia của Mao.

24/Ngày 7/6/1994: Phê bình Kiều Thạch, Lý Thụy Hoàn, Chu Dung Cơ, Vạn Lý.

28/Ngày 6/10/1994: Đặng là người chủ trương quyền uy chính trị. Quyền tự trị địa phương, liên bang hoặc bang liên có đạo lý.

30/Ngày 1/5/1995: Hủ bại hiện nay là sản phẩm của chế độ.

Và một số mục ở phần tiếp (sau khi Triệu Tử Dương gửi thư cho Đại hội 15, hơn nửa năm ông không được tiếp xúc với người ngoài):

4/ Ngày 19/8/1998: Giang Trạch Dân chuyển lời cho Triệu Tử Dương: “Việc này là do tự ông gây ra”.

6/ Ngày 17/10/1998: Triệu Tử Dương bàn về nhân quyền.

14/Ngày 18/10/2000: Lịch sử không thể để lại khoảng trống. “Giang là kẻ độc tài chuyên chính cuối cùng của Đảng CS trên thế giới”.

24/ Ngày 15/8/2003: Người ta kỳ vọng vào Hồ Cẩm Đào quá cao.

32/ Ngày 20/6/2004: Thể chế này thực chất là hủ bại. Mô hình TQ và mô hình Liên Xô, cái Trần Thủy Biển dựa vào là dân ý Đài Loan.

v.v.

Lời kết thúc sách: Triệu Tử Dương đã thoát khỏi phương thức tư duy cũ, là người đầu tiên trong tầng lớp lãnh đạo cao cấp TQ đề xuất TQ phải đi con đường dân chủ và pháp trị.

Sau khi giới thiệu một số mục chính (không liệt kê đầy đủ 81 mục), Dương Danh Dy nhận xét đây có thể là “1 cuốn sách mà những người muốn tìm hiểu TQ đương đại không thể không đ
ọc”.

2

Trong dịp thăm Hoa Kỳ, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết công bố chính sách miễn thị thực đối với Việt Kiều. Theo thông lệ của nhiều nước, nếu được miễn thị thực thì chỉ cần mang theo hộ chiếu là có thể xuất nhập cảnh dễ dàng, không cần đến cái gọi là “giấy miễn thị thực”. Tuy nhiên do trong số các đối tượng được hưởng quy chế mới về miễn thị thực có nhiều người không có dấu hiệu để các cửa khẩu có thể nhận biết và cho xuất nhập cảnh không cần thị thực, dẫn đến sự ra đời của “giấy miễn thị thực” do các cơ quan chức năng của VN cấp.

Về việc này, TS Nguyễn Sỹ Phương (Đức) có ý kiến trên TBKTSG ngày 6/9/2007:

“Trước hết cần làm rõ khái niệm “thị thực (visa)” và “miễn thị thực (miễn visa)”. Theo quy chế, để được miễn thị thực, Việt kiều phải xin cấp giấy miễn thị thực. Người được cấp giấy miễn thị thực sẽ được phép nhập cảnh, và lưu trú không quá 90 ngày. Trong khi đó, thị thực được định nghĩa theo chuẩn quốc tế là loại giấy cho phép nhập cảnh, có giới hạn thời gian lưu trú sau nhập cảnh (mức thông thường ở nhiều nước ấn định là ba tháng). Như vậy, dựa theo định nghĩa thị thực, thì giấy miễn thị thực vẫn chính là giấy thị thực. Việc đặt cho nó một cái tên mới “giấy miễn thị thực” không làm thay đổi được bản chất loại giấy này. Các thủ tục xin cấp giấy miễn thị thực chẳng khác mấy thủ tục xin thị thực, (ngoài điểm lợi căn bản nhất là thời hạn hiệu lực của giấy miễn thị thực dài hơn, tới năm năm). Chính các quy định về thủ tục làm giảm ý nghĩa sâu xa của chủ trương miễn thị thực, trong khi đó vẫn còn nhiều phương án lựa chọn khác để thực hiện chủ trương trên và đơn giản hơn nhiều cho đối tượng hưởng thụ.

Trước hết, những hộ chiếu nước ngoài có ghi nơi sinh ở Việt Nam, những người có hộ chiếu cũ của Việt Nam, những người còn chứng minh thư cũ, đều có đủ bằng chứng pháp lý nhận biết được, để thông qua thỏa thuận lãnh sự cho phép họ xuất cảnh ở nước đi và nhập cảnh vào Việt Nam không cần visa. Không nên buộc họ phải xin giấy miễn thị thực. Trường hợp giấy tờ quá cũ, có thể đòi họ xác nhận lại ở lãnh sự. Xa hơn, đối với những đối tượng khác có thể sử dụng phần bí chú (observations) trong hộ chiếu, phần đó đương sự có thể yêu cầu chính quyền sở tại của họ xác nhận vợ/chồng, con của Việt kiều, theo một mẫu thỏa thuận lãnh sự nào đó, để có thể dễ dàng nhận biết cho phép họ xuất và nhập cảnh không cần visa. Quy định như vậy vừa bớt được gánh nặng công việc cho phía lãnh sự Việt Nam không còn phải cấp giấy miễn thị thực, vừa đỡ cho người thụ hưởng khỏi tốn kém, phiền hà khi lo thủ tục, vừa để họ chủ động (đây cũng chính là những tiêu chí chọn lựa khi ban hành các văn bản pháp lý). Thị thực chỉ là giấy cho phép qua cửa khẩu, còn lưu trú ở đó lại do quy chế lưu trú và an ninh của nước ta điều chỉnh, kể cả người mang hộ chiếu Việt Nam. Vì vậy, không nhất thiết phải sử dụng đến thị thực để kiểm soát, nhất là khi đã áp dụng chính sách đại trà với tên gọi miễn thị thực cho Việt kiều, trong đó không hề đưa ra một giới hạn ngoại trừ nào cả”.

3

Quy chụp chính trị đã nhảy vào 1 cuộc tranh cãi chẳng liên quan gì đến chính trị. Có 1 vụ kiện cáo gì đó liên quan đến hồ sơ cồng chiêng Tây Nguyên, khá lằng nhằng mà Cavenui không theo dõi từ đầu nên chẳng hiểu mô tê gì cả. Chỉ biết đại khái là có 1 văn phòng luật sư tên là Văn phòng luật sư Đông A khiếu nại hay khởi kiện gì đó 1 tờ báo tên là Văn nghệ Trẻ vì văn phòng luật và tờ báo ở 2 phe khác nhau trong vụ cồng chiêng.

Báo Văn nghệ Trẻ dai dẳng trong nhiều số đăng bài chửi Văn phòng luật sư Đông A. Chửi thế nào, Cavenui đọc xong là quên ngay.

Nhưng đến số báo ngày 2/9, báo VN Trẻ đăng 1 bài viết rất dài của Luật sư Phạm Hoan, phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Thái Bình tên là: Văn phòng luật sư Đông A và nhóm Tinh Hoa: “thượng tôn công lý, chế áp cường quyền” hay là thách thức công quyền? đọc bài này không khỏi có cảm giác lạnh gáy.

Số là, bình thường ra các văn bản đơn từ gửi các cơ quan đảng, chính quyền trên đất nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam độc lập tự do hạnh phúc này bao giờ cũng “phía trên bên trái hàng trên cùng ghi tên cơ quan, tổ chức cấp trên, hàng dưới là tên cơ quan, đơn vị ban hành văn bản”, “vị trí trên cùng sát lề phải văn bản là tên Quốc hiệu Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập Tự do Hạnh phúc”. Thế mà trong các văn bản của VPLS Đông A, cái chỗ phải ghi quốc hiệu thì họ ghi khẩu hiệu “thượng tôn công lý-chế áp cường quyền”, chỗ phải ghi tên cơ quan cấp trên là Đoàn Luật sư Hà Nội thì họ ghi “Văn phòng luật sư Đông A & nhóm Tinh Hoa- nhóm dịch vụ pháp lý thuộc tập đoàn Đông A”.

Có thể VPLS Đông A đã sai các quy định hình thức về phát hành văn bản, báo Văn nghệ Trẻ và LS Phạm Hoan có quyền chỉ ra c
i sai đó.

Nhưng LS Hoan và tờ báo Trẻ đi xa hơn việc chỉ ra cái sai, họ chụp cho VPLS Đông A cái tội “tự cho mình cái quyền đứng ngang hàng với Nhà nước”, “liều lĩnh, ngang nhiên gỡ bỏ quốc hiệu của đất nước xuống, tự thay vào đó bằng việc dán nhãn mác văn phòng hiệu… của mình, như thể dương cao tiêu thức đòi quyền bình đẳng trước Nhà nước, bất chấp các chuẩn mực đạo lý và trật tự xã hội thông thường”.

LS Phạm Hoan đặt câu hỏi: “Với việc giương cao khẩu hiệu Thượng tôn công lý-chế áp cường quyền, không hiểu VPLS Đông A có phải tự đặt, tự phong, tự trao cho mình 1 sứ mệnh cao cả trước xã hội, hay còn vì 1 lý do nào khác?”. Liền đó ông kể chuyện gần đây: “Hẳn chúng ta còn nhớ, cách đây không lâu một nhóm văn phòng luật sư đã họp nhau lại, bàn bạc, định thành lập 1 nhóm luật sư… vì công lý. Nếu chỉ đơn thuần với tôn chỉ mục đích nhằm bảo vệ pháp luật thì cũng chưa có gì để mà phê phán, nhưng rất nhiều ý kiến phản bác từ phía xã hội không đồng tình với việc làm của họ, nhiều tổ chức hải ngoại đã nhân vụ việc này, đã ầm ĩ loan tin rùm beng lên và cho rằng: tại Quốc nội làn sóng đấu tranh dân chủ đã bắt đầu khởi sắc… chính vì vậy các cơ quan chức năng đã vào cuộc, ngay cả trong giới luật sư cũng có rất nhiều ý kiến phản ứng quyết liệt, gay gắt trước việc làm lệch lạc của một số VPLS nói trên, nên sự việc đã sớm được dập tắt”.

LS Phạm Hoan hùng hồn: “Việc VPLS Đông A gỡ bỏ quốc hiệu, tự trương biển hiệu của mình, phải chăng việc làm đó cũng đồng nghĩa với việc không công nhận sự tồn tại của Nhà nước?”, “Về khẩu hiệu Thượng tôn công lý…, không hiểu VPLS Đông A đề cao nền công lý nào? Hay đó là nền công lý tự do vô chính phủ?”.

Banner văn phòng luật sư ở trên, kính thưa các cơ quan chức năng ở dưới thì được diễn giải là: “VPLS Đông A và nhóm Tinh Hoa- đặt ở trên cao nhất, còn nơi kính gửi các cơ quan cấp trên của Đảng, Nhà nước, pháp luật, các cơ quan báo chí lại nằm ở vị trí dưới họ, thấp hơn nhiều lần? Phải chăng, họ đã và đang thăm dò, kiểm tra sự phản ứng của dư luận xã hội, hay chính đó là sự ngạo mạn, thách thức ngông cuồng với tất cả bộ máy công quyền?”

Cavenui chẳng bênh gì VPLS Đông A vì không biết ai đúng ai sai trong vụ lùm xùm cồng chiêng, cũng không thích mấy chữ thượng tôn công lý chế áp cường quyền nghe leng keng quá. Nhưng chỉ từ 1 cái lỗi nhỏ về hình thức văn bản mà các bác anti-Đông A suy luận ra công lý vô chính phủ với cả phủ nhận nhà nước, liên tưởng đến chuyện bị nhiều tổ chức hải ngoại lợi dụng, thì thật …. (các bác tự điền vào dấu chấm).

Advertisements

Một phản hồi to “Đọc báo 9/2007”

  1. blank said

    Cái giấy miễn thị thực xứng đáng được đóng dấu thương hiệu Việt. Bỏ được giấy phép này thì sẽ lòi ra giấy phép khác. Quê ta vạn tuế!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: