Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Thư viện

  • Bình luận mới nhất

    Adt on Lại thêm 1 bài không phải…
    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Tâm sự Việt gian

Posted by cavenui trên Tháng Mười 12, 2007

Tháng trước, NXB Nghệ An xuất bản “Việt sử yếu”, cuốn sách sử của Hoàng Cao Khải đã được dịch và in ở Sài Gòn trước 75. Người có nhiều công quảng bá cho cuốn sử lần tái bản này là nhà sử học Chương Thâu.

Hoàng Cao Khải vốn được coi như 1 Việt gian, vì ông cộng tác đắc lực với người Pháp, từng phụ trách Nha Kinh lược Bắc Kỳ. Cuốn sách Việt sử yếu dù tốt đến đâu vẫn chưa đủ để đổi màu chân dung chính trị họ Hoàng. Nghĩa là nếu viết về ông trong 1 dòng, dù có đọc Việt sử yếu rồi, Cavenui vẫn phải ghi nhận ông là kẻ cộng tác với thực dân Pháp.

Nhưng đánh giá con người không thể chỉ bằng 1 dòng. Những anh hùng sáng choang hay những Việt gian tối sầm từ đầu đến chân, có lẽ là cách vẽ chân dung còn nhiều thô lậu. Con người ta vốn phức tạp, có tốt có xấu, có anh hùng có nhỏ nhen, nên những nghiên cứu thêm của nhà sử học Chương Thâu về Hoàng Cao Khải, cũng như Lê Hoan có chỗ đáng đọc.

Cavenui chưa có điều kiện tìm hiểu sâu để bàn luận về “tâm sự Việt gian”, bài này trước tiên trích giới thiệu lời nói đầu của Chương Thâu cho cuốn sử mới tái bản của Hoàng Cao Khải. Bài sau viết về Lê Hoan. Sau nữa mới là ý kiến riêng của Cavenui, nếu có.

Nhân dịp bàn đến tác phẩm Việt sử yếu, có lẽ cũng cần thiết có thêm vài ba ghi chú về tác giả của nó. Hoàng Cao Khải là 1 nhân vật lịch sử có vấn đề. Vấn đề của ông cần được nghiên cứu, để có thể có những nhận định rạch ròi và xác đáng.

Hoàng Cao Khải (1850-1933) có hiệu là Thái Xuyên, người làng Đông Thái, huyện La Sơn (nay thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ), tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Cử nhân (1868) ra làm Giáo thụ ở Hoài Đức, rồi Tri huyện Thọ Xương, dần dần lên đến Kinh lược Bắc Kỳ, tước hiệu Diên Mậu Quận công (1890). Nha Kinh lược bị bãi bỏ, Hoàng vào Huế làm Phụ chính cho vua Thành Thái. Có mâu thuẫn với Nguyễn Thân, ông về hưu, lập ấp Thái Hà ở Hà Nội. Cuộc đời của ông, có thể nói, đã đặt ra những câu hỏi rất cần giải đáp để đảm bảo được sự công bằng trong lịch sử.

* Đời làm quan của Hoàng Cao Khải

Như đã nói ở trên, Hoàng Cao Khải xuất thân chỉ là 1 viên Huấn đạo, dần dần rời bỏ giáo chức để tiến sang hoạt động ở chính trường. Ông đã tiến lên đến tột đỉnh vinh quang, giành được vị trí tối cao trong hàng quan lại và rất được sự tin cậy của nhà cầm quyền thực dân Pháp. Có thể là ông đã có những công lao sau đây đối với Pháp:

-Từng giữ chức Tiễu phủ sứ để đánh dẹp quân khởi nghĩa, đàn áp phong trào Cần vương chống Pháp, phần lớn là ở địa bàn Bắc Kỳ. Ông cũng có những người dưới quyền chỉ huy của mình cũng nổi tiếng về khả năng đàn áp nghĩa quân (như trường hợp Lê Hoan, mặc dầu ở Lê Hoan cũng đang có nhiều điều cần xem xét lại). Ông đã viết thư dụ hàng Phan Đình Phùng và bị Phan Đình Phùng từ chối. Những thành tích “dẹp loạn” của ông chỉ được biết đến trên đại thể, chứ không thấy nêu rõ ở 1 trận đánh hay mưu mẹo nào. Người ta đều nhất trí là ông tận tụy trung thành với Nam triều và với CP Pháp. Do đó, mặc nhiên quần chúng đã xem ông là tay sai đắc lực của bọn thực dân, mặc dầu ông không có những hành động điên cuồng, độc ác như Nguyễn Thân, Trần Bá Lộc.

-Chưa sưu tầm được tài liệu thật đầy đủ và cụ thể, nhưng có điều khá rõ rệt là, khi phụ trách Nha Kinh lược Bắc Kỳ (6/1886), Hoàng Cao Khải đã tỏ ra là có tài về mặt điều hành chính trị. Lúc đầu, Nha Kinh lược khá đông viên chức. Tháng 6/1890, Toàn quyền Đông Dương và Thống sứ Bắc Kỳ ra Nghị định cho Hoàng Cao Khải có toàn quyền về tổ chức và chỉ đạo, ông đã phụ trách Nha này hoạt động rất quy củ, mặc dầu số viên chức đã giảm đi rất nhiều. Nha Kinh lược lại không phải chịu sự kiểm soát của Triều đình Huế, và như vậy, qua Hoàng Cao Khải, thực dân Pháp đã nắm toàn bộ Bắc Kỳ. Ông trở thành người cầm đầu xứ Bắc, trực tiếp duới quyền người Pháp.

-Cùng với quyền bính này, con cái của Hoàng Cao Khải cũng chiếm những vị trí cao trong quan trường. “Con cái một nhà hai Tổng đốc” (1), xưa nay ít có trường hợp như vậy. Do đó mà uy thế của ông càng to. Người ta cho rằng, nếu không thực sự là tay chân của thực dân thì làm sao có được những quyền lợi lớn như thế.

Có lẽ chính vì vậy mà ông không có được cảm tình của dân chúng. Xa gần, hễ nhắc đến ông, là người ta cho rằng ông là 1 tay sai đắc lực của thực dân Pháp. Thơ ca châm biếm, đả kích ông khá nhiều. Tuy nhiên, có điều lạ là trong loại thơ ca này không có bài nào vạch rõ được tội ác hay khuyết điểm cụ thể của ông. So với những bài châm biếm, đả kích lúc bấy giờ, bài nào cũng điểm tên chỉ mặt, vạch rõ cái xấu của đối tượng, thì thơ văn nói về Hoàng Cao Khải lại rất chung chung, nhiều nhất là thơ của Phan Điện. Nhưng Phan Điện nói về Hoàng Mạnh Trí, Hoàng Trọng Phu thì rất cụ thể, còn nói về Hoàng Cao Khải thì chỉ bảo: “Quan như cụ Quận cũng là to”. Khi ông mất, có câu đối của tác giả khuyết danh, cũng chỉ nói lập lờ” “Ngài về Tây cũng tiếc” (2) v.v., chứ không chỉ rõ được tội ác hay khuyết điểm. Bài thơ có câu “Pháp Nam hai nước một công thần” (3), có người giảng ra cái ý m
ỉa mai, nhưng có người lại không muốn hiểu như thế.

-Nhiều hiện tượng chưa được biết rõ, nhưng cũng phải có 1 nhận xét thêm rằng, trong khi làm Kinh lược Bắc Kỳ, Hoàng Cao Khải cũng có những việc làm có đóng góp nhất định cho đất Thăng Long. Không rõ trong thâm tâm của ông như thế nào, nhưng cái tên đường phố Thái Hà ở Hà Nội hiện nay là nhờ Hoàng Cao Khải mới có, do từ tên gọi Thái Hà ấp là đất ông khai phá và kiến lập. Thái tức là Đông Thái (quê hương ông), Hà là Hà Nội (nơi ông làm Kinh lược). Về danh nghĩa, ông muốn lập 1 trang ấp để cho “quan viên Bắc Kỳ quê quán, gia đình, xa xôi cách trở, chưa có nơi ở ổn định, được ban đặc ân để tạo dựng cơ đồ mà an cư lập nghiệp”. Danh nghĩa là như thế, nhưng thật ra ấp Thái Hà lúc đầu là của riêng ông. Có bao nhiêu gia đình dân chúng được quy tụ tại ấp này, ta chưa có điều kiện khảo sát, nhưng đã thấy được cái nhìn và cái khả năng của Hoàng Cao Khải chọn được vùng đất vốn còn hoang vu có nhiều đầm ao sình lầy ở địa bàn này để tạo lập thành 1 trang ấp ngày càng trù phú. Có thể đây cũng là thêm 1 nét đẹp trong lịch sử xây dựng đô thành Thăng Long. Bây giờ ở đây ta có cả 1 khu vực quanh Thái Hà với Cống Vọng (Phương Liệt), phường Nam Đồng, cùng với các di tích như miếu Trung Liệt, chùa Đồng Quang v.v.. ngày càng phát triển, thì phải nhớ công người khai phá.

-Còn có 1 điều nữa, dù hiện nay chưa phát hiện được 1 chi tiết, tài liệu nào, nhưng không thể không nghĩ đến. Thực tế thì ta thấy, so với nhiều quan lại khác đương thời, Hoàng Cao Khải dù bị quy là tay sai đắc lực cỡ chóp bu của thực dân, nhưng người ta chỉ nghi ngờ ông, chứ ông không bị bất bình, không bị vạch tội ác. Ông giao thiệp với các nhà trí thức, các vị quan chức một cách khá bình thường, nhiều trường hợp bị thành kiến ra mặt, nhưng lại vẫn giữ được sự êm đẹp. Có khá nhiều giai thoại cho thấy ông bị người ta kín đáo công kích, hoặc tỏ ý coi thường (như chuyện giao thiệp giữa ông với nhà thơ Yên Đổ, chuyện ông mở tiệc mừng con trai thi đỗ…), song không thấy kể thêm là ông đã thù hằn hay đối phó gay gắt với ai. Vào lúc đó, có khá nhiều vị quan đã có biệt nhãn đối với những người làm quốc sự (như trường hợp Đào Tấn với Phan Bội Châu, Cao Xuân Dục với Phan Châu Trinh v.v..), Hoàng Cao Khải có thuộc vào loại này không? Không rõ. Nhưng ta lại thấy Phan Bội Châu khi nhắc đến những người vì hoàn cảnh mà ở về phía bên kia, trong đó có nhắc đến Hoàng Cao Khải là người vẫn có “nhất điểm linh đài”, “còn 1 điểm lương tâm, còn biết VN là nước của tổ tông cha mẹ, còn biết VN là nước đồng bào, không nỡ trông thấy người Pháp phá hoại mòn mỏi đi!” và Phan Bội Châu vẫn hy vọng sự “hồi tâm” của Hoàng Cao Khải (4). Vì sao Phan Bội Châu lại thấy được như vậy? Còn như nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh khi sống ở Pháp (1920) được tin cựu toàn quyền Sarraut qua thăm Đông Dương, cụ Phan đã viết thư riêng báo cho “Tân Ấp tướng công Hoàng đại nhân” (lúc này đã về hưu sống ở ấp Thái Hà), trong thư có những đoạn biểu thị tình cảm với Hoàng Cao Khải như sau: “Năm 1910, khi Trinh ở Nam Kỳ từng được ngài Tham biện tỉnh Mỹ Tho đem cho xem cuốn Việt sử kính (tức cuốn Gương sử Nam) của ngài soạn. Đọc xong dấy lên nhiều điều cảm xúc. Tuy việc lập ý dùng từ gãy gọn nhẹ nhàng, không thể khiến cho người tuổi trẻ tân tiến hoan nghênh hết được, nhưng trong đó với sự nhìn nay nhớ xưa, xét việc đã qua biết điều sắp tới về tiền đồ thành bại mất còn của Tổ quốc chúng ta, một lần ca thán ba lần thở dài, trước sự chỉ dẫn ra con đường mê lộ của người nước ta, chưa từng không lưu ý đến nhiều lần vậy. Qua đó, Trinh biết là tướng công tuy cấp lưu dũng thoái (chảy gấp lui mau), vui thú điền viên, mắt thờ ơ nhưng lòng nóng hổi chưa từng có 1 ngày quên Tổ quốc” (5).

*Trước tác của Hoàng Cao Khải

Có 1 điều rất đáng lưu ý ở Hoàng Cao Khải là, nếu về mặt chính trị, ở Hoàng Cao Khải còn có nhiều vấn đề cần bàn bạc, thì về mặt học thuật văn chương, ông đã có thể có 1 vị trí nhất định, mặc dầu không phải là đều lắm.

Nói là không đều, vì Hoàng Cao Khải viết rất nhiều, nhưng không phải là đều tay. Ông có đi vào nghiên cứu, đặc biệt chú trọng đến sử học. Ông cũng đã tự xếp mình vào những nhà làm sử, hoặc bàn đến lịch sử (sử thị). Tác phẩm sử học của ông có cuốn Việt sử yếu cũng có điều đáng chú ý. Ông còn viết các cuốn:

-Gương sử Nam (bàn về các việc lớn trong Nam sử, như Phan Châu Trinh đã nhận xét ở Thư gửi Hoàng đại nhân).

-Việt Nam nhân thần giám (gương người làm bề tôi ở nước Nam).

-Làm con phải hiếu (truyện các người con có hiếu).

-Đàn bà nước Nam (truyện những người đàn bà có tiếng).

Dương Quảng Hàm nhận định: “Đây đều là những sách trong đó tác giả mượn các nhân vật hoặc các sự trạng trong lịch sử để khuyên răn người đời” (6). Những tác phẩm này đều có phong cách bình dị, không xuống đến mức tầm thường, nhưng trình độ nghệ thuật cũng không có gì là cao cho lắm. Chỉ có cuốn “Việt sử yếu” là có nét riêng.

Hình như trong văn chương, những tác phẩm thuộc loại có vần điệu của ông lại thường là xuất sắc hơn. Ông có soạn 2 vở tuồng:

-Tây Nam đắc bằng, viết về việc Bá Đa Lộc giúp Gia Long.

-Tượng kỳ khí xa, viết về vị tướng Võ Tánh tuẫn tiết ở thành Bình Đ
nh.

Những vở tuồng này cho thấy Hoàng Cao Khải đã tỏ ra rất tâm phục triều Nguyễn với người khai sáng là vua Gia Long. Lời văn trong các vở tuồng này rất cứng cáp điêu luyện, có nhịp điệu trầm hùng. Những đoạn ông làm lời của Võ Tánh nói trong vở tuồng Tượng kỳ khí xa chẳng hạn, đều rất linh hoạt và cảm động. Cách cấu trúc vở tuồng cũng đúng phép tắc, cho thấy ông cũng rất sành về luật lệ và nghệ thuật tuồng.

-Ông còn có làm một số câu đối rất hay, rất được các nhà nho đương thời (và cả quần chúng nữa) hâm mộ. Thí dụ như đôi câu đối viếng Nguyễn Thân. Nguyễn Thân cùng ông đứng đầu triều Thành Thái với nhau, và 2 người không ưa nhau lắm. Lúc Nguyễn Thân mất, Hoàng đi viếng đôi câu đối, nguyên văn chữ Hán:

“Giang hồ lang miếu, ngô bối chính quân ưu, hốt nhiên nhất bệnh trường từ, Thạch Trụ vân yên không diếu diếu;

Tôn tửu ly ca, cố nhân tùng thử biệt, hồi ức thập niên tiền sự, Hương Kiều dạ nguyệt thướng y y!”

(Dịch: “Non sông đền miếu, chung gánh bọn mình lo, mà sao một giấc bệnh dài, Thạch Trụ mơ màng mây khói rải;

Chén rượu câu ca, chia tay người cũ khuất, nhớ lại mười năm chuyện trước, Hương Kiều lẳng lặng bóng trăng soi!”)

Câu đối rất tài tình, nhắc đến chuyện 2 người làm việc với nhau ở đất Thần Kinh (Hương Kiều), chuyện mâu thuẫn cách đây 10 năm, người mất kẻ còn có bao điều muốn nói mà không nói được. Dư luận rất tán thưởng. Người ta cho rằng câu đối còn chòi móc Nguyễn Thân. Thạch Trụ là cột đá nước nhà, nhưng cũng là tên làng của Nguyễn Thân. Mây khói (vân yên) là gián tiếp nhắc việc Nguyễn Thân hút thuốc phiện. Mấy chữ không diếu diếu, thướng y y có hàm ý cả sự chê trách và sự không đồng tình… Dư luận cho rằng, với câu đối như vậy, Hoàng Cao Khải vẫn giấu một ý tình riêng (rằng Nguyễn Thân xử tệ với cụ Phan Đình Phùng), ai sâu sắc thì mới hiểu nổi. Sự thực có đúng như vậy không? Chỉ biết rằng với câu đối này, họ Hoàng đã giành được ít nhiều thiện cảm của những người dù có nhiều thành kiến với ông.

-Nhưng điều làm cho người đọc ngạc nhiên nhất là những bài thơ vịnh sử của ông. Phải nói thực rằng, đó là những bài thơ được nhất trí tôn vinh, vì cả trình độ tư tưởng và nghệ thuật đều đạt chất lượng cao. Người không có tài thơ, không có học thức cao không thể viết được những bài thơ hay như vậy. Và điều đặc biệt là các ý tứ, trong ngôn ngữ các bài thơ không thể là lời lẽ của 1 người giả dối hay vô tâm, vô tình với đất nước.

Xin trích mấy bài dưới đây:

VỊNH TRƯNG VƯƠNG

Tượng đá trời Nam trải tuyết sương

Ngàn năm công đức nhớ Trưng Vương

Tham tàn trách bởi quân gây biến

Oanh liệt khen cho gái dị thường

Liều với non sông hai má phấn

Giành nhau nòi giống một da vàng

Cột đồng Đông Hán tìm đâu thấy?

Chỉ thấy Tây Hồ bóng nước gương.

NÀNG MỊ Ê

Thuyền rồng không dựa, dựa thuyền chài

Gắn bó vì chưng trót một hai

Tiết nghĩa mảnh chiên, trời ấm lạnh

Cương thường giọt lệ, nước đầy vơi

Chứng minh đã có mười phương Phật

Sống thác cùng nhau một giống Hời

Sử sách ngàn năm ghi chép đó

Thương ai mà lại thẹn cho ai?

Cả 2 bài đều đã được đăng trên báo Đông Dương tạp chí, sau này được Dương Quảng Hàm đưa vào sách Quốc văn trích diễm và Dương Bá Trạc lại đưa vào Quốc văn sơ học độc bản dùng làm tài liệu giáo khoa (cùng nhiều bài khác của Hoàng Cao Khải) ở các trường tiểu học và trung học.

Phải ghi thêm rằng, bài thơ Vịnh Nàng Mị Ê đăng trên Đông Dương tạp chí còn có kèm thêm một số lời bình nhân vật cũng do Hoàng Cao Khải viết ra. Xin chép lại một vài câu để thấy rõ hơn tư tưởng của ông, và cũng để hiểu thêm trình độ văn chương của ông nữa. Ông đã viết trên báo in như 1 đoạn văn xuôi, nhưng thực ra thì lại là 1 chuỗi câu đối ứng:

Vì chưng

Giữ dạ kiên trinh

Nhớ lời gắn bó.

Người thì phải theo nhau một giống

Gái không lẽ thờ đến hai chồng?

Thế thì

Đành:

Lấy chiên mà quấn mảnh thân tiết nghĩa

dẫu khi ấm khi lạnh cũng phó mặc cho trời;

Lấy máu và hòa giọt lệ cương thường,

dẫu hoặc đầy hoặc vơi, cũng để trôi với nước!

Ai có biết, dẫu ai không có biết,

chứng minh đã có Phật mười phương

Sống cùng nhau, thì thác phải cùng nhau,

chung thủy cho tròn Hời một giống.

Than ôi!

Trinh tiết là đức riêng của gái

Khen chê là lẽ phải của đời.

Thương cho vàng đá dạ người

Thẹn cho những kẻ ép nài mưa mây.

Nghìn năm sử sách còn đây!

Chú thích:

(1) Con cái một nhà hai Tổng đốc/ Pháp Nam hai nước một công thần vốn là 2 câu thơ của Dương Bá Trạc trong bài thơ Đường luật “Mừng cụ Hoàng Thái Xuyên thất thập thọ” (1920) nhưng về sau người ta lưu truyền như 1 câu đối để “mỉa mai” Hoàng Cao Khải. Bài thơ này in trong sách của Dương Bá Trạc: “Nét mực tình”, NXB Đông Tây, Hà Nội, 1937, tr.30.

(2) Nguyên văn câu đối: “Ông ra Bắc là may, chức Kinh lược, tước Quận công, bốn bể không nhà mà nhất nhỉ/ Ngài về Tây cũng tiếc, trong triều đình, ngoài Chính phủ, một lòng với nước có hai đâu”. (Theo Tạp chí Văn hóa Hà Tĩnh, số 99+100, tháng 10-11/2006)

(3) Nguyên văn bài thơ của Dương Bá Trạc Mừng cụ Hoàng Thái Xuyên thất thập thọ như sau: “Vượng khí Lam Hồng đúc vĩ nhân/ Trời ban thêm tuổi, chúa thêm ân!/ Công danh sự nghiệp Hiến Thành-Lý/ Phú quý vinh hoa Nhật Duật-Trần/ Con cháu một nhà hai Tổng đốc/ Pháp Nam hai nước một công thần/ Tuần này chúc thọ là tuần bảy/ Còn biết sau đây mấy chục tuần”. Hoàng Cao Khải trong 1 bài thơ Vịnh Tô Hiến Thành có 2 câu ca ngợi: “Khinh bề tài hóa trọng cương thường/ Lòng dãi hai triều một tuyết sương”.

(4) Phan Bội Châu-Toàn tập, tập 2-NXB Thuận Hóa-Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2000, tr.71.

(5) Phan Châu Trinh-Toàn tập, tập 3-NXB Đà Nẵng, 2005, tr.42

(6) Dương Quảng Hàm-Con người và tác phẩm, NXB.Giáo dục, Hà Nội, 2002, tr.512.

Advertisements

4 phản hồi to “Tâm sự Việt gian”

  1. [deleted] said

    Thú thực là tôi không tưởng tượng ra các cụ ngày xưa lại “bán nước cho Tây” theo cái cách mà ta thường được học trong sử khi ngồi ghế nhà trường 😀 Tư tưởng phong kiến có cái gì đó bảo thủ và ghê gớm lắm, nên quy chụp kiểu đó giờ thấy buồn cười. Nếu dùng kiểu đánh giá ấy rồi đem so với thời đại ngày nay, không hiểu 100 năm nữa thì con cháu ta đánh giá về chúng ta thế nào 😀

  2. Phin said

    Núi có thể để size chữ to hơn một tẹo không?

  3. Cavenui said

    Thỉnh thoảng có đọc báo Thanh Niên nhưng mải để ý đến cuộc chiến buồn cười của tờ báo này với một số blog “bẩn” nên bây giờ mới đọc bài phỏng vấn Chương Thâu trên số báo điện tử post ngày 4/10.
    http://www1.thanhnien.com.vn/Vanhoa/2007/10/5/211275.tno
    So với lời nói đầu cho Việt sử yếu, trong bài trả lời phỏng vấn, ô.Chương Thâu còn có thêm vài thông tin khác.
    – Quan thầy Pháp theo dõi chặt chẽ hành vi Hoàng Cao Khải, nghi ngờ ông này 2 mang:
    “Nếu không thì tại sao, ngày giờ tiến hành đàn áp khởi nghĩa Yên Thế, Hoàng Cao Khải đều thống nhất với một đồng sự vốn là bà con xa của Hoàng Hoa Thám, như thể ngầm “đánh tiếng” sang nghĩa quân. Rồi, sau này lập ấp Thái Hà, thực tâm Hoàng Cao Khải muốn giúp đỡ những người từ phương xa tới kinh kỳ. Trong danh sách những người được ông cưu mang, có cả Hoàng Mậu Dân, thân phụ của Hoàng Ngọc Phách. Mà Hoàng Mậu Dân thì vốn là thủ túc của Phan Đình Phùng, bị truy nã gắt gao ở Hà Tĩnh”.
    – Chương Thâu mạnh dạn hơn khi từ chỗ đề nghị tìm hiểu thêm về HCK đến chỗ cho rằng ông Hoàng tuy chưa thể gọi là yêu nước, nhưng “có tinh thần dân tộc”. Cái tinh thần ấy, theo Chương Thâu, còn được truyền đến con cháu ông:
    “Tinh thần dân tộc ấy đã lan truyền đến thế hệ con, cháu của ông. Hoàng Trọng Phu, Tổng đốc Hà Đông cũng thiết lập một trại ấp “từ thiện” và còn có công khôi phục làng nghề cho tỉnh Hà Đông. Đặc biệt, cả Hoàng Trọng Phu và Hoàng Mạnh Trí (Tổng đốc Nam Định) đều âm thầm hỗ trợ phong trào Đông Du, làm lơ cho hai trung tâm tuyển chọn đi Đông Du ở Hà Đông và Nam Định cứ việc hoạt động”.
    Coi như là tư liệu bổ sung, ghi lại đã.

  4. GauGauA said

    Bo sung mot chut!
    Chua Tram Gian, Ha Tay, kha noi tieng, dep lam, nhung dan quanh do be boi, lam no xau di!
    Chua do hinh nhu con mot tam bia ca ngoi cong duc cua Tong doc Ha Dong Hoang Cao Khai. Van rat la hay!
    Bao gio CVN cung chong con du ngoan qua do, cach HN co chung 30 km thoi, nho xem roi “ky nhay” ho toi!
    Cam on them: Cac bai post len rat dang doc. KHong hieu cong phu typing hay la coppy cac bai rat dai nhu vay. Neu la tu typing thi phuc qua! Gau Gau Gau…

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: