Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Thư viện

  • Bình luận mới nhất

    Adt on Lại thêm 1 bài không phải…
    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Đọc báo 8/2007 (3)

Posted by cavenui trên Tháng Chín 29, 2007

1.Ai là tác giả?

Đọc số báo Văn nghệ ra ngày 25/8 thấy có 2 tác phẩm bị đặt dấu hỏi về tác giả. Thứ nhất là bài “Văn tế sống 2 o gái ở Trường Lưu” xưa nay vốn được coi là của Nguyễn Du và thứ hai là bài thơ “Liễu” từng xuất hiện trong tập thơ “Gửi miền Bắc” (1958) của Tế Hanh.

Nhà thơ Vương Trọng không tin Nguyễn Du là tác giả bài văn tế.

Theo ông, bài văn tế này nên xếp vào loại dở, rất kém về nghệ thuật ngôn từ, suốt 200 câu nhan nhản những cặp biền ngẫu lỏng lẻo xoàng xĩnh, không hề có hơi hướng của thi hào Nguyễn Du:

“Tiếng tăm chi đó mặc ai/ Ngày tháng còn dài đó tá”.

“Đã làm chi thế vội vàng/ Thôi chẳng lo gì thong thả”.

“Dẫu có ai trẻ mỏ lớn lên/ Là những chốn xưa nay chẳng bạ”.

Nguyễn Du là người có trái tim lớn, quan niệm chữ tâm bằng ba chữ tài, và nếu chỉ dùng 1 chữ để chỉ cụ thì theo Vương Trọng, đó là chữ Thương. Còn chàng trai trong bài Văn tế tỏ ra là 1 con người ích kỷ, nhỏ nhen, hãnh tiến, sung sướng khi người yêu của mình lấy phải người chồng không danh giá:

“Một đứa thì dắt mũi trâu từ thưở bé, tắc tắc hò rì/ Một đứa thì cắt cỏ ngựa đến tận giờ, tùng tùng dạ há/ Ở làm chi một năm thêm một tuổi càng cao/ Khéo gớm cho hai ả được hai chồng cũng khá”.

Trong “Long Thành cầm giả ca”, Nguyễn Du chỉ gặp cô Cầm 1 lần vào 20 năm trước, mà khi gặp lại, lời thơ đã làm bao người rơi nước mắt. Thế mà trong Văn tế, tác giả nhắc lại kỷ niệm của mình với người yêu thế này:

“Trước chái nhà thì tàng hình thủy phủ, đứng lăm lăm ai biết mô mồ/ Trong nhà thì thiết phục long vương, nằm trập trập hình như đống mả…/ Yếm nhuộm điều che trước ngực, đỏ lòm lòm/ Câu huê tình đọc bên tai, nghe xa xả…/ Phụt ngọn đèn trước mắt, đếch sự đời, chẳng phải đứa tiểu tâm/ Đùng tiếng lói sau nhà, đéo mẹ kiếp, bỗng có thằng đại phá…”

Vương Trọng còn nhận xét, Nguyễn Du tuy là người Nghệ nhưng sống nhiều năm trên đất Bắc, các tác phẩm của cụ rất ít dùng tiếng địa phương, ngay cả bài Thác lời trai phường nón để tỏ tình với các cô gái Trường Lưu, cụ có ý thức sử dụng tiếng địa phương mà cũng chỉ có 3-4 từ. Còn trong Văn tế, tiếng địa phương dùng nhan nhản, thiếu chọn lọc.

Vương Trọng bất mãn:

“Bản thân tôi là người quê Nghệ Tĩnh nhưng vẫn thấy khó chịu với cách dùng tiếng địa phương tràn lan, tùy tiện, nói chi độc giả những vùng quê khác. Những câu như: thương chắc nỏ lấy được chắc, làng nước hục hặc, lấy nỏ được chắc, chúng bạn ta như nghé sổ ràn… thừa tiếng Nghệ mà thiếu chất văn, xuất hiện khắp nơi trong bài văn tế này. Nguyễn Du luôn luôn ý thức được mình là nhà thơ của cả nước, nên không bao giờ dùng từ ngữ như thế để kéo mình từ 1 trong An Nam ngũ tuyệt về với trình độ CLB thơ phường xã như thế”.

Nhà phê bình Hồng Diệu khẳng định bài Liễu không phải là của Tế Hanh.

Bài Liễu như thế này:

Xưa kia từng thấy liễu

Mướt tóc giữa thơ Đường

Ấm màu trong tranh Tống

Rủ mình trong giấc mơ

Giờ thấy liễu rườm rà

Mọc dài theo cuộc sống.

Chẳng giống liễu thơ Đường

Khác xa liễu tranh Tống

Không như liễu trong mơ

Nhưng lòng tôi xúc động

Càng ở ngoài xứ mộng

Liễu lại càng nên thơ.

Nhưng nếu chẳng thơ Đường

Nếu không màu tranh Tống

Không huyền ảo chiêm bao

Chắc gì trong cuộc sống

Liễu đã mang thơ vào

Chắc gì mắt em như lá liễu

Đã cắt lòng anh một nét dao.

1957

Nếu phân tích thơ như Vương Trọng phân tích bài văn tế thì có thể thấy bút pháp bài này khác các bài thơ khác của Tế Hanh. Nhưng Hồng Diệu còn thuận lợi hơn Vương Trọng ở chỗ Tế Hanh, khác với Nguyễn Du, là người đời nay.

Năm 1989 khi hỏi chuyện Tế Hanh về Chế Lan Viên, Hồng Diệu được nghe kể lại:

“Tập Gửi miền Bắc của tôi, Chế Lan Viên đọc rất kỹ, có những câu anh đã sửa giúp. Thậm chí, xin tiết lộ với anh, bài Liễu in trong tập này, về sau có đưa vào Tuyển tập Tế Hanh, chính là của Chế Lan Viên. Anh ấy tặng tôi và bảo cứ coi như của Tế Hanh cho vui”.

Sau này Hồng Diệu có nghe nói, để viết bài thơ Liễu, Chế Lan Viên có lấy ý thơ của Tế Hanh. Nhưng chuyện này thì ông không hỏi được.

Cũng liên quan đến chuyện ai là tác giả đích thực, còn có vụ về tác giả các bài thơ “Em tắm”, “Nhớ vợ”, “Núi mường Hung dòng sông Mã”.

Theo sách vở chính thức thì các tác giả lần lượt là Bạc Văn Ùi, Cầm Vĩnh Ui và Cầm Giang. Chỉ có nhà thơ người dân tộc Kinh Cầm Giang là có lai lịch tiểu sử rõ ràng còn 2 bác dân tộc Ùi và Ui thì hành tung hoàn toàn bí ẩn. Hồi năm 2001, trên báo Người Hà Nội số 24/3 nhà thơ Lò Ngân Sủn cho biết 3 người ấy thực ra là 1. Nhưng có vẻ như đấy chỉ là ý kiến của Lò Ngân Sủn, vấn đề chưa có kết luận chính thức, cuộc bầu chọn nhiều bê bối 100 bài thơ hay thế kỷ XX với tiêu chí mỗi tác giả được chọn chỉ được chọn 1 bài đã chọn cả 3 bài thơ nói trên, tất nhiên là ghi tên 3 tác giả khác nhau..

Mới đây, báo Tiền Phong chủ nhật số 33 (13/8) trong mục hậu trường văn nghệ có 1 bài rất dài của Nguyễn Tham Thiện Kế tên là “Mối tình ẩn khuất của Cầm Giang với nguyên mẫu trong bài thơ nổi tiếng Em tắm”. Cavenui không quan tâm đến chuyện yêu đương của các nhà thơ nên không đọc bài báo này, nhưng nhìn lướt tên bài thì thấy “Cầm Giang” và “Em tắm”, nhìn kỹ vào đoạn giới thiệu tiểu sử Cầm Giang dưới bức ảnh Cầm Giang ở trang 5 thấy liệt kê tác phẩm, có đủ cả “Em tắm”, “Nhớ vợ” và “Núi mường Hung dòng sông Mã”.

Như vậy ý kiến của Lò Ngân Sủn không đơn độc, lần này nó còn được thuyết minh cụ thể hơn vì Nguyễn Tham Thiện Kế còn kể được chuyện ông Cầm Giang làm bài thơ Em tắm trong trường hợp nào, em nào tắm.

Nếu những câu chuyện ở trên là đúng thì bác nhà thơ Cầm Giang, tức Lương Cầm Giang, tên thật Lê Gia Hợp là nhà thơ duy nhất được chọn đến 3 bài thơ trong cuộc bầu chọn 100 bài thơ hay thế kỷ XX ở Văn Miếu hôm xưa.

2. Thư Nguyễn Ngọc Tư gửi Sơn Nam

Nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư và nhà văn già Sơn Nam vốn được giới phê bình văn học VN xếp vào cùng 1 dòng văn chương đậm đà bản sắc đồng bằng sông Cửu Long. Thế nhưng khi Nguyễn Ngọc Tư gặp rắc rối với Cánh đồng bất tận thì bậc trưởng lão Sơn Nam không bênh vực, ông nói đại ý cô Tư viết hay nhưng hỗn, văn phong cổ hơi cà rỡn, cái nhìn về người nông dân không chuẩn và cô Tư cần được chỉ dẫn thêm.

Tờ TBKTSG 23/8 trong mục Tạp văn có “Thư gửi ông Sơn Nam” của Nguyễn Ngọc Tư. Cavenui không bình luận nội dung bức thư này vì chưa có điều kiện hiểu rõ Nhà Quê của cô Tư. Nhưng về hình thức, cách Nguyễn Ngọc Tư tranh luận một cách tình cảm nhưng kiên quyết, lễ phép nhưng không hiền lành (nhớ Lưu Trọng Lư hồi dâng thư lên Khê Thượng để tranh luận với Tản Đà về Thơ Mới) rất đáng được “nhân rộng”, khi mà hiện nay, các nhà văn thường luận chiến như các nhà văng.

Cóp pết ra đây toàn bài:

Nhà Quê nhiều lần làm con giận lắm, ông à. Con mua táo về, táo Mỹ nghen, mắc tiền lắm, Nhà Quê cắn xong một miếng, nhấm nhẳn, ăn thua… mộng dừa, con ức không chịu nổi vì đã bị phụ lòng còn bị giũa một trận te tua, tội phí tiền mua mấy thứ không ngon lành gì. Con bị sốc đâu cũng năm ba lần như vậy, tặng măng cụt Nhà Quê nói ăn cũng không hơn… mãng cầu gai, còn sầu riêng thì bị quăng ngay ra cửa, vì cái mùi… thúi c
hịu hổng nổi.

Con thấy tổn thương ghê gớm. Nhà Quê mà ông và con yêu mến cũng có điều đáng phàn nàn, không chịu tiếp nhận cái mới gì cả, đôi lúc còn cực đoan nữa. Nhà Quê ít chịu mở ti vi coi thời sự, đã qua thời dùng bình ắc quy nhưng Nhà Quê đợi tới cải lương (hay phim) mới chịu bật ti vi. Nên hiểu biết của Nhà Quê không vượt ra khỏi cái xóm đó, con kinh đó, bờ chuối, bờ dừa đó. Sách báo thì chỉ được mấy lão nông đảng viên về hưu để mắt tới, tầm 30- 40 rảnh thì nhậu thôi, cầm tờ báo lên than buồn ngủ quá trời. Những kiến thức, những thông tin của thế giới bao la này nhiều khi bị cắt xén ra từng mẩu bằng… bàn tay, lúc ngồi soi bóng nước trong cầu cá tra, buồn tình mới săm soi vài chữ.

Vậy nên những chuyện đồng cốt thầy bà thì miễn bàn, Nhà Quê mê vô kể. Ai đó cắt lưỡi lấy máu để gỡ bùa, ai đó chữa bệnh ung thư bằng nước lạnh, ai đó lấy ếm trên nóc nhà tóe lửa, ai đó được bà cậu (tại sao bà mà là cậu được ta?!) nhập vào, bứt cọng tóc của thân chủ mà biết được quá khứ vị lai, sáng mai đi hướng nào mới tốt; ai đó một bữa đi nhậu về té sông, lội lên không biết bị người cõi nào nhập mà ho một cái, kẻ thù lăn ra chết. Sợ thiệt! Nhà Quê chịu khó chèo lắm, mỗi khi nghe đồn đãi có đồng cốt nào đó mới lập bàn thờ, tưng bừng như đi hội. Lúc đi tìm giống lúa mới, hay tham quan các mô hình canh tác cũng không hào hứng, đông đủ vậy.

Con có ghét gì Nhà Quê đâu, con thương còn không hết. Vì thương nên con mới bực mình. Hồi đó có câu “dân như mắt khóm”. Trái khóm, ông cũng biết, quá chừng mắt. Nhưng bây giờ những con mắt đó đã nhắm lại rồi, không hiểu tại sao. Nhà Quê hay bị nhằn kiểu vầy, mấy ông Nhà nước làm sao chứ để số đề hoành hành quá, mấy ông Nhà nước tính làm sao chứ nò đó trên sông nhiều quá, có bữa không biết đường chạy xuồng. Vụ số đề, rốt cuộc ai chơi? Nhà Quê chơi. Ai làm thầu? Nhà Quê luôn. Biết tỏng tòng tong đường dây mua bán, biết luôn kẻ mua người bán, nhưng Nhà Quê vẫn thấy việc dẹp bỏ nó không phải của mình. Và những cái nò đó chằng chịt trên sông cũng vậy, và những trò đồng cốt lường gạt cũng vậy… chúng được tồn tại, nuôi nấng, chiều chuộng ngay trong lòng Nhà Quê.

Con biết cái thư này làm ông buồn, ông nghi hoặc, Nhà Quê làm gì đến nỗi, dù gì, cũng còn phần hồn vía giản dị, trong trẻo. Dạ còn, hào sảng còn, chơi hết mình còn, hồn hậu còn, nhưng cũng giống như bức tường xây lâu ngày, vôi vữa bắt đầu rơi ra từng mảng nhỏ, Nhà Quê bây giờ đi đám giỗ cũng bằng tiền, cũng ghi sổ để tới đám giỗ nhà khác coi người ta đi bao nhiêu mình đi lại bấy nhiêu. Trai gái không biết làm gì nên lấy nhau sớm, có đứa mười sáu tuổi đã bồng con nèo nẹo. Có xóm, vợ nhậu vô rượt đánh… chồng te tua. Sổ đỏ nằm ở ngân hàng, nhưng có thừa ra chút tiền, đi sắm dàn karaoke về ca cho đã, chứ đằng xóm người ta sắm hết rồi, mình không có, cũng kỳ.

Bữa nay con méc mấy chuyện này với ông, Nhà Quê hay được, lại giận, nói chân con còn dính phèn mà đã day qua nói xấu quê hương xứ sở mình. Con lại được đội thêm cái nón nữa, dù con không muốn, con đủ đen rồi, muốn làm hảo hán đầu đội trời chân đạp đất.

Thôi, con dừng bút, chừng nào nhớ ra cái gì, con lại viết thư cho ông. Biết đâu chừng, thư sau, con sẽ kể một chuyện dễ thương của Nhà Quê để chứng minh là con yêu Nhà Quê, như ông.

Advertisements

2 phản hồi to “Đọc báo 8/2007 (3)”

  1. Quỳnh Vy said

    Nếu tôi là tổng biên tập báo TBKTSG, tôi sẽ mời ông nhà văn Sơn Nam viết thư trả lời cho chị Tư.
    Có lẽ ông cũng nhiều chuyện vui buồn ở miền Tây để hồi đáp cho chị Tư.

  2. Cavenui said

    Ý kiến hay. Nhưng hình như nhà văn Sơn Nam già yếu rồi (81 tuổi), hồi báo phỏng vấn ông về Cánh đồng bất tận, ông bị tai nạn giao thông phải nằm 1 chỗ, không hiểu bây giờ thế nào.
    Bây giờ chơi thế này.
    Giả sử ông Sơn Nam nhờ bạn Quỳnh Vy viết thay. Bạn Vy viết hôn?

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: