Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Thư viện

  • Bình luận mới nhất

    Adt on Lại thêm 1 bài không phải…
    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Đọc báo 8/2007 (2)

Posted by cavenui trên Tháng Chín 26, 2007

1. Ông Nguyễn Đại Lai nói gì về nguyên nhân lạm phát?

Ngày 21/8 tại Hà Nội có cuộc hội thảo “Diễn biến thị trường giá cả 7 tháng 2007, dự báo giá những tháng cuối năm”. 1 đại diện của Ngân hàng Nhà nước tại cuộc hội thảo này là TS.Nguyễn Đại Lai, phó Vụ trưởng Vụ phát triển chiến lược. Đương nhiên ý kiến của 1 quan chức ngân hàng TW như ông về nguyên nhân lạm phát cao thời gian qua được dư luận quan tâm. Một số báo đã phỏng vấn ông Lai về chuyện này. Dưới đây là trích đoạn bài trả lời phỏng vấn của ông Nguyễn Đại Lai trên tờ Tiền Phong 23/8, nhân chuyện VND yếu đi 2 lần (yếu đi so với đồng USD đang yếu):

Nói đến nguyên nhân gây ra lạm phát cao từ đầu năm đến nay thì có nhiều. Nhưng liên quan đến lượng ngoại tệ lớn nhất từ trước đến nay mà chúng ta đã bỏ tiền ra mua vào.

Do một lượng tương đối lớn đổ vào TTCK mà các nhà đầu tư nước ngoài hoặc là nhà đầu tư trong nước có ngoại tệ muốn mua cổ phiếu hoặc chứng khoán trên TTCK thì phải mua bằng đồng nội tệ. Và chúng ta phải bỏ ra một lượng lớn nội tệ để “nội tệ hóa ngoại tệ” ném vào TTCK.

Do đó nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cung tiền. Mà TTCK đầu năm, chúng ta thấy nó “nóng” lên rất nhiều và đến giữa tháng 3 thì “down” (xuống). Một bộ phận không ít nội tệ trước đó (ngoại tệ đã được nội tệ hóa) được tung ra thì đã vào đâu? Một là chuyển vào BĐS, thị trường vàng hoặc là thị trường tiêu dùng… Tất cả đều nằm đâu đó ngoài lưu thông nên sẽ gây ra một lạm phát.

Một số bài lược thuật hội thảo trên mạng, hay bài trả lời phỏng vấn của ông Lai trên vài tờ báo khác cũng có nội dung gần như tương tự.

Bình luận về ý kiến của TS Lai, TS Phan Minh Ngọc, người từ nhiều tháng trước đã phê phán chính sách mua ngoại tệ của NHTW đã cười khẩy khi thấy ông Lai đổ lỗi nguyên nhân lạm phát cho TTCK đi xuống. Theo ông Ngọc, TTCK chỉ là 1 kênh dẫn vốn, nó không phải là 1 cái hố hút tiền khỏi lưu thông rồi bơm tiền vào lưu thông. Bản thân TTCK cũng là 1 loại thị trường như thị trường vàng, thị trường BĐS hay thị trường tiêu dùng. Nó up hay down thì cũng không ảnh hưởng đến cung tiền.

2. Ông Philip Kotler giảng gì ở Việt Nam?

Chuyên gia số 1 về marketing, GS Kotler đã có hơn 30 giờ làm việc ở VN vào trung tuần tháng 8, ông diễn thuyết tại cuộc hội thảo kéo dài 7 tiếng với chủ đề “marketing mới cho thời đại mới” cho những ai chịu chi 320 USD (theo tờ TBKTSG 23/8, đây là giá khiêm tốn so với giá diễn thuyết của Kotler ở các nơi khác nên nhiều doanh nhân ở ngoài VN cũng tranh thủ sang VN nghe giảng, 1/3 khách tham dự đến từ các nước khác trong khu vực Đông Nam Á), trả lời một số câu hỏi lặt vặt (đại loại Vinamit ra nước ngoài không cần đổi tên nhưng nên học Coca Cola cách vào TQ, làm sao cho người Tàu phát âm Coca Cola vẫn ngon lành, nhân tiện đá đểu cái tên Mitsubishi là vừa dài vừa vô nghĩa) và ăn tối thân mật với 20 nhà quản lý các doanh nghiệp lớn ở VN. Đương nhiên sự hiện diện của ông được báo chí quan tâm. Tổng hợp từ các báo TBKTSG 23/8, SGTT 20/8, Nhịp cầu Đầu tư 27/8, DNSG 24/8, Cavenui ghi nhận mấy ý chính sau:

Ông Kotler trình bày những món ông đã nói ở nhiều nơi

Đó là chiện thời mới thế này thì marketing phải mới thế nào cho xứng đôi vừa lứa. Tác giả “Tiếp thị phá cách”, người khởi xướng mô hình PDB 3 bước (positionning-differentiation-branding) khuyến cáo các marketer phải tập trung vào khách hàng hơn là vào thị trường và đối thủ, thứ tự chú tâm là khách hàng-nhân viên-đối tác-đối thủ cạnh tranh. Việc tập trung cao độ vào khách hàng sẽ giúp công ty tìm ra những đại dương xanh tức những phân khúc thị trường tiềm năng, có thể tạo ra lợi nhuận nhưng lại chưa bị cạnh tranh bởi đối thủ. Kotler đưa ra 3 cấp độ marketing: markerting 1.0 là cấp độ mà sản phẩm của công ty chiến thắng suy nghĩ, chiến thắng cái đầu khách hàng (KH thấy có lợi khi sử dụng SP, dịch vụ của Cty), marketing 2.0 là cấp độ mà sản phẩm dịch vụ, thương hiệu của công ty chiến thắng trái tim khách hàng (KH có rung động, có cảm xúc khi nhắc đến sản phẩm) và cuối cùng là marketing 3.0: sản phẩm, dịch vụ, thương hiệu chiếm tâm hồn của khách hàng, làm sao họ phải thấy buồn thấy nhớ khi thương hiệu biến mất.

Ông Kotler cũng nói đến tầm quan trọng của thương hiệu toàn cầu, trách nước Nga lớn thế mà nhắc đến nó người ta chỉ biết có vodka, TQ cũng chỉ được mỗi anh Hayer, trong khi 2 nước Thụy lại có chi chít những thương hiệu quốc tế. Để có được thương hiệu tầm quốc tế, trước tiên anh phải thành công ở chính nước mình, sau đó mới tiến dần ra khu vực (đối với VN-đó là vùng Đông Nam A), rồi sau nữa mới là quốc tế.

Ô.Kotler cho rằng quảng cáo trên TV và các phương tiện truyền thông đang hết thời, đề cập đến các phương tiện tiếp thị mới như tiếp thị truyền miệng, blog, SMS, MMS, webcast, podcast và những mạng xã hội.

Tất cả những điều trên đây ông Kotler đã nói ở nhiều nơi, như trên mạng có người nhận xét là ông đã nói y chang ở Estonia trước đ
.

http://www.thuvien-ebook.com/forums/showthread.php?p=37134

Chuyện này chẳng có gì lạ vì chẳng có lý do gì vừa đặt chân đến VN, ông Kotler đã phát kiến ra vài nguyên tắc tiếp thị tươi mới, thơm tho.

Dành riêng cho Việt Nam

Dành riêng cho VN có lẽ chỉ có 1 nhận xét đáng chú ý của ông Kotler. Ông cho rằng TQ với ưu thế nhân công giá rẻ được xem là công xưởng của thế giới, Ấn độ nơi có nhiều lao động tri thức, tiếng Anh thạo, IT phát triển trở thành văn phòng của thế giới thì VN nên cố gắng trở thành nhà bếp của thế giới (kitchen of the world).

Nhận xét này có thể có sau khi ông Kotler được thưởng thức những món ăn khoái khẩu ở nước VN xa lạ và nhận xét này làm khoái nhĩ cử tọa. Nhưng thử search cụm từ “kitchen of the world” trên google, ta sẽ thấy vô số trang web của nước bạn Thái Lan. Nhà báo Kim Hạnh ngay sau đó đã có bài “Nhà bếp của thế giới-người Thái đã đi trước” trên tờ SGTT ngày 20/8, than thở người Thái đã làm chuyện này từ lâu rồi, rất chi là bài bản và chuyên nghiệp.

3. Công chức Việt ghi gì trên danh thiếp?

Trên tờ TBKTSG 23/8, doanh nhân Phan Huê ở Cty du lịch Vòng tròn Việt có bài “Chuyện danh thiếp” phàn nàn việc không có sự thống nhất trong việc dịch tên các cơ quan nhà nước và chức vụ công chức ra tiếng nước ngoài. Trích 1 đoạn:

“Nếu chịu khó sưu tập danh thiếp của cán bộ nhà nước, chúng ta sẽ thấy nó đa dạng về hình thức, phong phú về cách dịch thuật! Có tấm khổ lớn, có tấm be bé, có tấm in ngang, có tấm in đứng. Cách trình bày và phông chữ cũng không giống nhau, logo của ngành hay địa phương ít khi được in, nếu có thì sáng tạo theo cách riêng của chủ nhân tấm danh thiếp!

Phần tiếng Việt của các danh thiếp thường ghi rõ ràng tên đơn vị, chức vụ, số điện thoại, thậm chí ghi cả địa chỉ nhà riêng của chủ nhân. Nhưng phần tiếng Anh thì khó có thể hiểu rõ công chức đó phụ trách công việc gì, làm ở cơ quan nào! Ví dụ cùng là cơ quan sở du lịch nhưng khi dịch sang tiếng Anh thì có nơi dịch là tourism service, nơi thì gọi là department of tourism hoặc sở du lịch của 1 thành phố lớn thì lại dịch là administration of tourism. Cơ quan cục (thuộc bộ) thì có nơi dịch là department, nơi khác thì ghi là national office hoặc agency. Đều là chuyên viên cơ quan nhà nước nhưng có người xưng là… specialist, người khác lại giới thiệu là expert và cũng có người khiêm tốn nhận là government officer. Cùng là trưởng phòng, nhưng có người ghi trong danh thiếp là director, người khác lại ghi là manager hoặc head of…

… Thực tế thì các cơ quan của khối Đảng, đoàn thể rất khó dịch vì không tìm được từ tương ứng. Thật không dễ gì dịch được những từ như Ban Dân vận, Đảng ủy Dân-Chính-Đảng sang tiếng Anh, Pháp, Nhật để người nước ngoài có thể hiểu ngay được. 1 giảng viên tiếng Anh của 1 trường đại học lớn ở TP.HCM nói là ông không thể dịch được từ “ấp văn hóa” hay “khu phố văn hóa”. Nhưng không vì vậy mà mỗi tỉnh lại có cách dịch khác nhau tên của 1 cơ quan”.

Advertisements

4 phản hồi to “Đọc báo 8/2007 (2)”

  1. Philips Kotler hay các bác “thầy dùi” khác đi đâu giảng thì cũng chỉ có một số bài tủ thôi chứ làm sao mỗi lúc lại nghĩ ra được một bài. Và để “localize” cho bài giảng thì thêm thắt vài yếu tố địa phương của nước mà họ tới giảng bài. Kiểu như Việt Nam có chi phí nhân công rẻ, ẩm thực ngon, tiềm năng du lịch lớn v.v.
    Đọc bài viết “Kitchen of the World” viêcủa Kim Hạnh cũng không thấy có gì đặc sắc bời vấn đề nêu ra … Việt Nam cũng biết. Kiến nghị và giải pháp đưa ra cho việc promote văn hóa ẩm thực vẫn chỉ dừng ở góc độ của một … nhà báo, không nêu được ý nào đặc sắc và hữu ích. Có rất nhiều cách để đè bẹp các bạn Thái Lan trong lĩnh vực ẩm thực, giành danh hiệu Kitchen of the World từ tay các bạn ấy cho Việt Nam.
    Thật ra các bác Tổng cục du lịch không phải là không nghĩ được tất cả những cái đó. Có điều “ở trển” chưa cho hoặc chờ dài cổ Bộ tài chính xét duyệt kinh phí thì còn mướt mới làm nổi. Đâu có như các bạn Thái Lan có tầm nhìn cao, nhìn xa và khả năng hành động lớn từ chóp bu cho tới quần chúng. Các bạn ấy làm marketing du lịch chịu chơi và sành điệu đến mức đáng kinh ngạc. Các bạn ấy dám thuê hẳn một dinh thự lớn tuyệt đẹp trên mặt đại lộ Champs – Elysées nổi tiếng nhất Paris – nơi có giá thuê văn phòng đắt thứ ba trên thế giới và biến nó thành một cung điện nguy nga đặc Thái để bán vé máy bay Thái Airways,tiếp thị du lịch và đại diện cho nước nhà. Chỉ cần bước vào đó thôi là đủ choáng váng, kính cẩn nghiêng mình trước sự chịu chơi và tầm nhìn vĩ đại của các bạn Thái. Nhìn mà thấy sốt ruột cho Việt Nam.

  2. Tề Phi said

    Mới đọc phần về lạm phát của chị Núi, tôi nghĩ ý kiến của ông Đại Lai khá chuẩn xác. Ngọn nguồn tăng lưu thông tiền ở Việt Nam trong thời gian qua chính là luồng ngoại tệ lớn đổ từ ngoài vào chứng khoán và đầu tư trực tiếp (cộng với những luồng khác trước giờ vẫn nhiều, như kiều hối, viện trợ). Lượng ngoại tệ này bắt buộc phải chuyển sang nội tệ (theo đúng pháp luật), và dù gì thì cũng gây áp lực lạm phát (vì ngoài chợ đen người ta vẫn mua bán bằng USD và đổi như thường). Nêu NHNN không mua ngoại tệ vào, thì sẽ gây sức ép tăng giá rất lớn đối với VND, ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu và tăng trưởng. Vả lại, thực tế VND vẫn đang tăng giá với USD, chứ không phải giảm giá, nếu tính tỷ giá thực – tỷ giá thực là tỷ giá đã điều chỉnh bằng lạm phát.

  3. Cavenui said

    Noy, cái khúc đầu của bác Lai thì chắc mọi người đều đồng ý: luồng vốn nước ngoài chảy mạnh vào VN (trong đó có luồng vốn chảy vào TTCK, bên cạnh FDI và kiều hối) gây áp lực lạm phát. Nhưng bác Ngọc phản đối bác Lai là phản đối cái khúc sau.
    Theo bác Lai, TTCK down nên 1 lượng VND trước đây nằm ở TTCK chảy sang các thị trường hàng hóa khác (tiêu dùng, vàng, BĐS) và vì thế mà gây lạm phát.
    Theo bác Ngọc, giữa 2 thời điểm TTCK nóng sốt và nguội lạnh, VND chuyển từ thị trường này sang thị trường kia thì tổng cung VND không thay đổi, với giả thiết NHNN không có can thiệp gì thêm. Điều đó nghĩa là áp lực gia tăng lạm phát không tăng thêm, vào thời điểm TTCK down.
    Ngày xửa ngày xưa, hay nói chuyện tỷ giá với bác Vũ Ngọc Nhung và bác Lâm Võ Hoàng. Một bác sau đó vào tù vì vụ Ngân hàng Việt Hoa, 1 bác thì không biết giờ làm gì, Cavenui đã lâu không quan tâm đến chuyện vĩ mô nữa, giờ trong đầu chỉ toàn giá đồng.

  4. Tề Phi said

    Vâng, tôi nghĩ là ngay cả trong đoạn sau thì ông Đại Lai vẫn có ý hay hơn ông Ngọc. Nôm na, có thể coi thị trường chứng khoán là một thị trường tiết kiệm khác (trong thời kỳ lên xuống thất thường thì nó không hoàn toàn giống như tiết kiệm, nhưng có thể hiểu như vậy). Việc thị trường biết động mạnh theo chiều xuống nghĩa là giá của công cụ tiết kiệm này xuống thấp, nên người ta không dùng nữa, rút tiền ra (nếu như độ co dãn đủ cao – tôi nghĩ thực tế đúng như vậy), nghĩa là giảm tiết kiệm, và tăng tiêu dùng (cho dù có chuyển sang một số phương tiện tiết kiệm khác là vàng, BĐS như ông Lai nói, thì tổng tiết kiệm có lẽ vẫn giảm đáng kể). Từ đó dẫn đến tăng sức ép lạm phát thêm nữa.

    So sánh ra, có lẽ ông Ngọc lý luận dựa trên giả thiết tỷ lệ tiết kiệm không đổi, một giả thiết rất thường thấy trong các mô hình vĩ mô cơ bản. Còn mô hình ông Lai có trong đầu có tính chi tiết và thực tế hơn, ở chỗ ông tính đến cả việc thay thế tiết kiệm và tiêu dùng. Tôi thấy ông Đại Lai có suy nghĩ như vậy rất đáng phục: nó vượt qua những mô hình cơ bản mà các tổ chức như IMF và WB vẫn thường dùng, và đạt đến tầm của các mô hình nghiên cứu sâu sắc – quan trọng hơn nữa, có lẽ là nó phản ánh đúng một mặt của nền kinh tế lúc này.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: