Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Thư viện

  • Bình luận mới nhất

    Adt on Lại thêm 1 bài không phải…
    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Đọc báo 7/2007 (2)

Posted by cavenui trên Tháng Tám 27, 2007

1.

Trên TBKTSG 26/7, cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt đề nghị phải thận trọng với việc thành lập các tập đoàn kinh tế.

Ông nhận xét hầu hết các tập đoàn KT nước ngoài đều xuất phát từ công ty gia đình nhỏ, do hoạt động hiệu quả và được những nhà quản lý giỏi lãnh đạo nên dần dần trở thành tập đoàn khổng lồ sau 1 quá trình dài hàng chục năm. Ở đó, quan hệ trách nhiệm giữa người trực tiếp điều hành doanh nghiệp và chủ sở hữu đã được xác định rất rạch ròi.

Trong khi đó nền tảng hình thành các tập đoàn của ta là các tổng công ty 90, 91 với cơ chế quản lý chưa rõ ràng, người điều hành DN vừa không đủ quyền tự chủ lại không phải chịu trách nhiệm về kết quả điều hành dẫn đến tình trạng cha chung không ai khóc, lạm dụng tài sản nhà nước mưu lợi cá nhân khá phổ biến.

Từ đó:

“Dưới cái vỏ mới tập đoàn kinh tế như hiện nay, nhưng thực chất vẫn vận hành với chế độ sở hữu cũ, những con người cũ, phần lớn vị trí chủ chốt được bổ nhiệm vì lý do chính trị chứ không dựa trên năng lực quản trị kinh doanh vì vậy cũng không thể kỳ vọng có thể khắc phục được những khiếm khuyết, bất cập của các tổng công ty lớn của chúng ta.

Hiện các DNNN nắm giữ khối tài sản quốc gia rất lớn: 70% tổng tài sản cố định, 20% vốn đầu tư toàn xã hội, 50% vốn đầu tư của nhà nước, 60% tín dụng ngân hàng và 70% nguồn vốn ODA…, trong đó hơn 80% do các tổng công ty lớn đã hoặc sắp thành lập tập đoàn nắm giữ. Với khối tài sản lớn như vậy, nếu không cải thiện được hiệu quả hoạt động của khu vực này; vẫn tiếp tục tình trạng làm ăn thua lỗ, yếu kém thì tác hại của nó ở quy mô tập đoàn còn lớn hơn nhiều so với các tổng công ty 90, 91”.

Cựu thủ tướng lo ngại sự bành trướng của tập đoàn sẽ lấn át khu vực tư nhân:

“Sự bành trướng của các tập đoàn sang mọi lĩnh vực kinh doanh khác vừa đi ngược chủ trương “nhà nước và DNNN sẽ tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân”, vừa phân tán lực lượng và sức cạnh tranh của DNNN, vừa không giải phóng được những nguồn lực do các DNNN nắm giữ mà không sử dụng có hiệu quả, vừa thêm khó cho Nhà nước trong việc kiểm soát các tập đoàn này. Đồng thời, các tập đoàn lại chiếm thêm phần thị trường, các nguồn lực vật chất và cơ hội kinh doanh vốn đã khiêm tốn cho khu vực tư nhân và DN vừa và nhỏ của VN khiến khu vực này khó cải thiện được năng lực cạnh tranh, khó lớn lên để phát huy vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế”.

2.

Tờ Nhịp cầu Đầu tư (bây giờ đã chuyển thành tuần báo) số ngày 30/7 có bài của Hà Vy phân tích giá sữa bột, 1 vấn đề chắc được 20% số người trong FL của Cavenui có quan tâm. Đọc xem chúng ta phải trả bao nhiêu tiền cho những clip quảng cáo sữa ngoại bắt mắt và “miễn phí” trên TV.

1 lý do khiến giá sữa bột tăng là giá nguyên liệu sữa tăng, từ 2.500 USD/tấn đầu năm 2007 lên đến 6.000 USD/tấn gần đây. Giá nguyên liệu sữa tăng cao vì nguồn cung khan hiếm, hạn hán ở Úc và New Zealand cũng như việc EU cắt giảm trợ cấp nông nghiệp làm chi phí chăn nuôi tăng. Dự đoán xu hướng giá sữa nguyên liệu tăng sẽ còn kéo dài sang đến đầu năm 2008.

Vì vậy năm 2007 là năm giá sữa liên tục điều chỉnh đến chóng mặt:

“Ngay trước thềm năm mới, 1 loạt nhãn hiệu sữa nhập khẩu như Grow, Enfagrow… thông báo tăng giá tối thiểu hơn 20.000 đ/lon tùy trọng lượng (tương đương 10%). Mức tăng này khiến các bà nội trợ giật mình, vì những lần tăng trước chỉ từ 3.000-5.000 đ/lon.

Tháng 2, đến lượt các nhãn hiệu sữa nội đồng loạt lên giá 5.000 đồng mỗi sản phẩm, tương đương 5% giá hiện thời. Lúc đó, giá nguyên liệu sữa chỉ mới ở mức 2.500 USD/tấn. Đến tháng 6, một lần nữa, các nhà SX sữa nội giải thích là không kham nổi giá nguyên liệu tăng lên gấp đôi nên buộc phải đẩy giá bán thành phẩm thêm 5% nữa”.

Cùng đối mặt với việc giá sữa nguyên liệu tăng nhưng các hãng sữa nước ngoài và trong nước có những chính sách tăng giá bán khác nhau. Các hãng nước ngoài thường tăng giá mạnh 1 lần để đón đầu những đợt sốt nguyên liệu thời gian tới và không phải điều chỉnh lai rai theo thời giá nguyên liệu như các nhà SX nội.

“Nhờ tiềm lực, tài lực và uy tín của tập đoàn toàn cầu nên các hãng sữa ngoại có lợi thế ký được những hợp đồng cung cấp nguyên liệu dài hạn, dự báo và dự trữ được lượng sữa nguyên liệu cần thiết, đảm bảo kế hoạch về giá cũng như tiếp thị.

Trong khi đó, một số ít công ty sữa lớn trong nước chỉ ký được hợp đồng cung cấp nguyên liệu tối đa 3 tháng, còn hầu hết hợp đồng chỉ có thời hạn 1-2 tháng. Cho nên các nhà SX sữa đang đứng trước những cân nhắc tăng giá liên tục, mỗi lần chỉ 3-5.000 đ/sản phẩm. Biết là việc t
ăng giá lai rai như thế này làm người tiêu dùng hoang mang, nhưng chúng tôi không thể điều chỉnh giá 1 lúc lên quá cao như sữa ngoại vì không nắm được nguồn nguyên liệu- ông Lê Việt Hà (chủ tịch HĐQT Cty Hancofood) cho biết”.

Giá sữa thành phẩm trong nước tăng vùn vụt, nhưng vẫn rẻ hơn ít nhất một nửa so với sữa ngoại. Theo các nhà SX sữa nội, hầu như tất cả đều lấy nguyên liệu từ cùng 1 vài nguồn cung cấp:

“Nutifood, Hancofood và Abbott đều lấy nguyên liệu từ 1 Cty ở New Zealand và Úc. Dutch Lady và Mead Johnson sử dụng cùng 1 nguồn cung cấp nguyên liệu. Thành phần và chất lượng sữa ngang nhau, song giá bán của mỗi hãng chênh lệch nhau nhiều lần”.

Sự chênh lệch đó ở đâu?

“Cùng 1 lon sữa trọng lượng 400gr trên thị trường VN, có xuất xứ nguyên liệu như nhau, người tiêu dùng phải trả 5 USD/kg chi phí nhập khẩu đối với sữa thành phẩm. Còn với sữa nhập nguyên liệu và đóng gói tại VN, người tiêu dùng phải trả 15% thuế nhập khẩu nguyên liệu (tương đương 4.800 đồng/lon), chi phí bao bì 6.000 đ/lon. Chênh lệch lớn nhất giữa hàng nội và hàng ngoại là chi phí SX sữa trong nước chỉ 2.000 đ/lon, trong khi hàng nhập khẩu là 6.000 đ/lon. Chi phí quản lý cho sữa ngoại còn cao gấp 10 lần sữa nội, chênh lệch 10.000: 1.000 đ/lon”.

Giá thành SX của sữa ngoại có cao hơn sữa nội, nhưng chỉ ở mức: “tổng cộng giá thành 1 lon sữa bột 400gr của nhà SX VN là 45.800 đ, trong khi sữa nhập khẩu là 58.800 đ”, nhưng thực tế giá bán của sữa ngoại hiện nay hơn 100.000 đ/lon trọng lượng 400gr, trong khi sữa nội là 52.000 đ. Chênh lệch lớn nằm ở chi phí tiếp thị cho SP sữa nhập khẩu, ước tính chiếm 30-50% giá bán.

3.

GS Hoàng Tụy, 1 người luôn chủ trương giảm nhẹ sức ép thi cử lại phát biểu về giáo dục trên tờ Tia sáng 20/7. Quan điểm của GS vốn rất nhất quán, do đó, cũng không có điều gì mới trong bài viết này đối với những ai đã từng đọc những ý kiến trước của GS. Cavenui chỉ nhặt ra vài câu liên quan đến thực tế mới- kỳ thi tốt nghiệp THPT mới đây được đánh giá là nghiêm túc:

“Vừa qua thi THPT nghiêm túc là 1 dịp bộc lộ rõ thực trạng yếu kém của giáo dục. Nhớ lại những năm trước, hiện tượng đáng xấu hổ phao rải trắng sân trường sau mỗi buổi thi, còn trong khi thi thì quang cảnh nhốn nháo, người dân bắc thang qua tường, trèo tường, ném bài giải vào phòng thi. Để ngăn chặn cảnh đó năm nay có nơi như Hà Tây xây tường rất cao quanh một số trường thi, làm cho các trường trông giống nhà tù hay trại tập trung hơn là trường học. Tốn kém xây bức tường có nơi lên tới cả mấy trăm triệu đồng. Thật kỳ quái, chống tiêu cực thi cử bằng biện pháp xây tường cao cũng chẳng khác nào thời bao cấp chống nạn ăn cắp thìa trong các quán ăn mậu dịch bằng cách đục lỗ tất cả các thìa. Để đảm bảo kỳ thi nghiêm túc chẳng lẽ phải trả bằng cái giá hạ thấp văn hóa như thế ư?”

“Đã lâu quá rồi chúng ta quen cho lên lớp thoải mái, thi cử lấy lệ, không nghiêm túc. Bây giờ sít chặt thì đúng, nhưng cũng chỉ mới nghiêm túc ở đoạn cuối. Khác nào 1 quy trình sản xuất gồm nhiều công đoạn mà chỉ đến khi ra thành phẩm mới kiểm tra chất lượng thì hết sức lãng phí. Dẫu sao cái tốt là bây giờ thấy rõ chất lượng tồi tệ của giáo dục”.

Advertisements

2 phản hồi to “Đọc báo 7/2007 (2)”

  1. Gaup said

    Nói về việc thi cử. Mình thì lại sợ là kết quả kém vừa rồi không phải là do người ta khỏi được cái bệnh ham thành tích mà là do người ta mắc cái bệnh đấy nặng thêm. Ông BT kêu ca rằng tỷ lệ tốt nghiệp cao là biểu hiện của bệnh ham thành tích, vậy thì để chiều lòng ông BT chúng tôi giảm tỷ lệ này đồng loạt xuống cho ông xem. Cái thành tích trong trường hợp này ko phải là tỷ lệ cao nữa mà lại là tỷ lệ thấp.

    Rồi thì là những thứ thực chất vẫn không có gì thay đổi cả đâu. Hô hào suông vẫn chưa có tác dụng gì cả. Đáng buồn quá thế đấy.

  2. cha hieu anh Gaup noi cai gi

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: