Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Lưu trữ

  • Phản hồi gần đây

    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    sonata on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Chân dung một số kinh tế gia miền Nam 54-75 theo Đặng Phong

Posted by cavenui on Tháng Tám 6, 2007

NguyenXuanOanh

Cuốn “Lịch sử kinh tế VN 1945-2000” do Đặng Phong làm chủ biên dày dặn đắt tiền nhưng có nhiều thông tin bên lề không cần thiết và khi viết về miền Nam, ngòi bút của các tác giả vẫn bị chi phối bởi nhiều điều không tiện nói ra.

Hiện nay do sách vở trong nước viết ít về kinh tế miền Nam thời chia cắt nên những gì Đặng Phong viết về kinh tế miền Nam, kinh tế gia miền Nam giai đoạn này là rất đáng đọc. Nhưng đọc là 1 chuyện, và tin theo lại là chuyện khác. Vì những lý do ai cũng biết cả rồi.

 

Dưới đây là đoạn Đặng Phong viết về các kinh tế gia miền Nam:

Nếu xét về bằng cấp, thì ở toàn miền Nam lúc đó chỉ có 2 nhà kinh tế học có bằng cấp cao nhất là Vũ Quốc Thúc và Nguyễn Cao Hách. 2 ông đều học ở Pháp và đạt văn bằng cao nhất ở đó là thạc sĩ kinh tế (agregé des sciences économiques). 2 nhà khoa bảng lớn về KT đó đều chuyên về giảng dạy đại học, chủ yếu là Đại học Luật khoa Sài Gòn. Họ đã có công đào tạo nên nhiều chuyên gia về KT cho Chính phủ và cho cả các ngành kinh doanh tư nhân.

GS Nguyễn Cao Hách chỉ thuần túy lo giảng dạy và viết sách. Ông rất được học trò kính trọng vì sự uyên bác và cách nhìn nhận các vấn đề KT một cách khách quan, khoa học. Ông viết không nhiều, chủ yếu là SGK về KT. Bằng một văn phong sáng và rất đẹp, ông có ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều thế hệ học trò về 1 cách nhìn KT học: đó không phải là 1 ngành khoa học của những triết thuyết xơ cứng, mà là 1 ngành khoa học của cuộc sống, thậm chí chứa đựng đông đặc nhất những nhịp thở của cuộc sống. Đó là 1 trong những lý do làm cho Nguyễn Cao Hách từ sau khi thôi dạy học cho đến cuối đời, vẫn để lại những ấn tượng không phai mờ trong đội ngũ đông đảo những kinh tế gia ở miền Nam, mà một tỷ lệ đáng kể trong đó đã từng là học trò của ông.

Vũ Quốc Thúc cũng là 1 nhà giáo uyên bác và nghiêm túc. Ông cũng góp phần quan trọng trong việc đào tạo môn KT học tại trường Đại học Luật khoa và Trường Hành chính Quốc gia. Ông có viết một số công trình nghiên cứu về KT VN. Trong đó, trước hết, có thể kể đến cuốn Kinh tế công xã VN bằng tiếng Pháp (L’économie communaliste du Vietnam. Ed.Presse Universitaire, Hanoi, 1951). Có thể nói, đó là tác phẩm đầu tiên của 1 người VN nghiên cứu một cách có hệ thống về KT xã thôn. Vũ Quốc Thúc có một thời kỳ tham gia trong chính quyền. Trước hết ông có chân trong nội các của Bửu Lộc (1953-1954). Thời kỳ Ngô Đình Diệm cầm quyền, ông được giao giữ chức Thống đốc Ngân hàng Quốc gia. Đến 10/1956, do sự kỳ thị của anh em họ Ngô đối với người ngoài đảng Cần Lao, ông bị nghi vấn về chính trị, ông từ chức, nhưng vẫn đảm nhận cương vị cố vấn KT của Tổng thống. Từ năm 1965, chiến tranh cục bộ đã đặt ra yêu cầu nghiên cứu 1 kế hoạch cho thời kỳ mà cả phía Mỹ và VN Cộng hòa đều nghĩ là chiến tranh sẽ kết thúc với sự chiến thắng của quân đội Mỹ. Vũ Quốc Thúc là trưởng phái đoàn phía VN trong cuộc soạn thảo ra bản Kế hoạch Kinh tế hậu chiến. Vào thời đó, đó là công trình KT học nổi tiếng nhất của ông, cả ở miền Nam lẫn ở Mỹ. Nhưng rồi giai đoạn hậu chiến đã diễn tiến trái ngược với cái “hậu chiến” trong bản kế hoạch rất công phu của ông. Có thể đó là 1 trong những điều “bất đắc ý” trong sự nghiệp của ông.

Ngoài 2 nhà khoa bảng đàn anh kể trên, ở miền Nam có khoảng hơn 1 chục nhà KT học đã tốt nghiệp văn bằng tiến sĩ. Trừ trường hợp Nguyễn Văn Hảo lấy bằng TS KT ở Thụy Sĩ thì số tốt nghiệp ở Pháp chiếm phần lớn nhất: Hồ Thới Sang, Mai Văn Lễ, Châu Tiến Khương, Trần Thiên Vọng, Lâm Văn Sĩ, Âu Trường Thanh… Một số người tuy không lấy bằng TS, nhưng tốt nghiệp ở những trường danh tiếng của Pháp như Nguyễn Anh Tuấn (tốt nghiệp trường Quốc gia Hành chính Pháp), Nguyễn Hữu Hanh, Nguyễn Xuân Nghĩa (tốt nghiệp trường Cao đẳng Thương mại Pháp). Những vị này thường là có giảng dạy đại học, thỉnh thoảng cũng có cơ hội để nhập thế và giữ một số vai trò trong bộ máy CP như Thứ trưởng, Bộ trưởng, có khi là Phó thủ tướng. Trong số những KT gia nhập thế, có 2 người có tầm ảnh hưởng quốc gia là Nguyễn Văn Hảo và Nguyễn Hữu Hanh.

Nguyễn Văn Hảo là người thẳng thắn, có tinh thần quốc gia, nên từ sau khi VN hóa chiến tranh, ông được cử giữ chức Phó thủ tướng phụ trách KT. Sau 1975 ông vẫn ở lại và có nhiều kiến nghị có giá trị đối với CP.

Nguyễn Hữu Hanh là 1 nhân vật không nổi tiếng lắm nhưng rất quan trọng. Dưới thời Ngô Đình Diệm, ông đã từng giữ chức Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia (1955-1961). Từ 1965, ông là Tổng ủy viên Kinh tế-Tài chính, 1 chức tương đương Phó Thủ tướng đặc trách KT, kiêm Thống đốc Ngân hàng Quốc gia trong CP Nguyễn Cao Kỳ. Có thể nói, trong thời gian 1965-1970, nếu Vũ Quốc Thúc là người hoạch định kế hoạch KT hậu chiến thì Nguyễn Hữu Hanh là người xử lý các vấn đề KT cấp bách trước mắt của thời chiến. Sở dĩ ông không phải là nhân vật nổi trội vì thời kỳ này mọi kế hoạch và giải pháp đều do phía Mỹ quyết định. Ông chỉ là nhân vật hàng 2, hàng 3 trong số những policy maker của giai đoạn này.

Sau số học ở Pháp, có một số người rất nổi tiếng tốt nghiệp TS ở Mỹ.

Nổi tiếng nhất trong số này là Nguyễn Xuân Oánh. Ông tốt nghiệp KT tại ĐH Harvard và ông sớm nhập thế vào giữa thập kỷ 60 với chức vụ Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, Phó thủ tướng và có một thỦlt;br /> ?i gian rất ngắn ngủi 19 ngày đầu năm 1965 là Quyền Thủ tướng. Sau đó ông cũng xuất thế nhanh chóng như nhập thế, ông rời chính trường để đi vào kinh doanh các ngân hàng tư cho tới ngày giải phóng. Ông ở lại và có những đóng góp đáng kể cho chính quyền mới. Ông đã từng được bầu vào 1 khóa Quốc hội của nước CHXHCN VN.

Nguyễn Tiến Hưng tốt nghiệp TS KT ở Mỹ năm 1971. Về miền Nam, ông được CP Nguyễn Văn Thiệu sử dụng trong những mối liên hệ với các nhân vật Mỹ. Đặc biệt từ 1974, khi KT đã đi vào giai đoạn quẫn bách, Nguyễn Văn Thiệu đã cử Nguyễn Tiến Hưng làm BT Kế hoạch & Phát triển, với dụng ý rất thực dụng là khai thác những quan hệ thầy trò giữa Nguyễn Tiến Hưng với các yếu nhân Mỹ, trong đó có BTQP Schlesinger là người trước đây đã từng là GS dạy môn tài chính mà Nguyễn Tiến Hưng là học trò…

Trong số học ở Mỹ về cũng phải kể đến một số người có văn bằng TS mà thời đó thuộc thế hệ trẻ, có tài năng. Một số vừa giảng dạy đại học, vừa tham gia chính trường, như TS Nguyễn Mạnh Hùng có lúc làm tới chức Thứ trưởng Bộ Kế hoạch. Có những người chỉ chuyên giảng dạy đại học như trường hợp TS Trần Anh Tuấn. Những trường hợp như thế chủ yếu là do đương sự không muốn dính líu vào chính trường chứ không phải do chính phủ Sài Gòn không trọng dụng.

Ngoài số TS được đào tạo ngoài nước, từ 1971 bắt đầu có chế độ bảo vệ luận án TS trong nước… Từ khi có chính sách VN hóa chiến tranh thì nhu cầu đào tạo trong nước tăng lên. Lúc này, phần lớn các GS đều ít nhiều tham gia chính trường. Đã tham gia chính trường thì phải có thế lực, có vây cánh, có équipe… Do đó, từ năm 1971, các GS bắt đầu chọn trong số những đệ tử của mình những người giỏi để đào tạo TS, nhằm tạo ra 1 êkip trong đại học cũng như trong CP. Đó là lý do để từ đầu thập kỷ 70 đã xuất hiện hàng loạt TS tốt nghiệp trong nước. Trong số đó có Nguyễn Văn Ngôn và Lê Khoa.

Nếu xem xét 1 cách chung nhất về giới KT gia ở VN Cộng hòa, thì dù có nguồn gốc khác nhau, vị trí chính trị và khoa bảng có thể khác nhau, đều có một số đặc điểm chung sau đây:

-Mong muốn chấn hưng nền KT đất nước, giành lấy sự độc lập về KT thay cho sự lệ thuộc vào ngoại bang. Là những người sống trong cuộc, lại có đủ tri thức KT và có những cơ hội quan sát nhiều nền KT khác nhau, họ rất thấm thía thế nào là 1 nền KT lệ thuộc, thế nào là giá trị và chỗ đứng của 1 dân tộc, 1 quốc gia khi từ miếng cơm manh áo đều do ngoại bang định đoạt. Có thể nói phần lớn giới KT học của VN Cộng hòa đều có tinh tần quốc gia, tinh thần tự lập, tự cường.

-Phần lớn những KT gia đều có 1 mảnh đất bản bộ là trường đại học. Giảng dạy, viết sách là nghề chính của họ. 2 trường đại học chủ yếu tạo ra chỗ đứng này là ĐH Luật khoa và Trường Hành chính Quốc gia. Đây là nơi vừa đón nhận những nhà khoa bảng về KT, đồng thời cũng là 2 cơ sở cung cấp những chính khách cho chính quyền ở mức độ khác nhau: cao nhất là Thủ tướng, Phó thủ tướng, Bộ trưởng, thấp hơn là Thứ trưởng, Giám đốc các Nha, Sở… Sở dĩ gọi 2 trường đại học đó là đất bản bộ vì khi chính quyền dùng đến thì các KT gia nhập thế từ đây, rồi đến khi thất thế hay cần xuất thế thì cũng lại trở về đây.

-Trong việc nhập thế của giới KT gia đáng lưu ý 1 hiện tượng rất đặc trưng của VNCH: những nhu cầu chính trị thực dụng có 1 ý nghĩa rất quan trọng, thậm chí nhiều khi là quyết định. Có nhiều người tham chính là do tài năng, do xu thế chính trị. Nhưng cũng có nhiều trường hợp một số Bộ trưởng, Thứ trưởng, thậm chí Phó Thủ tướng được bổ nhiệm mà không mấy liên quan đến kiến thức KT học của đương sự… Có khi Tổng thống cử 1 GS nào đó làm Bộ trưởng, Thứ trưởng chỉ đơn giản là vì trong ngành đó đang có vấn đề, đang có những phong trào chống đối trong xã hội, mà SV thường bao giờ cũng là 1 thành phần đáng kể trong các phong trào đó. Tận dụng tình thầy trò của lễ giáo phương Đông, nền chính trị Sài Gòn biết rõ rằng nếu cử 1 ông thầy nổi tiếng làm Thứ trưởng, Bộ trưởng thì có thể rất dễ dẹp những phản ứng của thanh niên và SV. Chẳng hạn khi nông dân cùng SV biểu tình rầm rộ đưa những yêu sách liên quan đến lợi ích của nông dân trong chương trình Người cày có ruộng thì CP cử ngay GS Tôn Thất Trình từ ĐH Nông-Lâm-Súc sang làm Bộ trưởng Canh nông. Phong trào lắng dịu khá nhanh, vì học trò dù sao cũng không nỡ biểu tình, chửi bới thầy dạy của mình. GS Hồ Thới Sang là nhà KT học chuyên về lĩnh vực tài chính công, đã dạy nhiều năm ở ĐH Luật khoa và có uy tín lớn trong SV. Khi có phong trào SV biểu tình phản chiến, thì CP cử ông làm Thứ trưởng 1 bộ không liên quan gì đến KT là Bộ Thanh niên học đường. Điều đó làm cho chính ông cũng bất ngờ và khó hiểu. Nhưng chẳng bao lâu sau, ông đã hiểu ra: từ khi ông làm Thứ trưởng, ông có nhiều lần nói chuyện trước đám đông và trên tivi, dần dà SV và thanh niên đỡ làm loạn hơn!… Đây là 1 trong những khía cạnh làm cho nhiều người đánh giá Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là 1 chính trị gia cao tay. Nhưng đây cũng là 1 khía cạnh của sự méo mó nghề nghiệp của giới KT gia nói riêng và trí thức miền Nam nói chung…

Việc tổ chức nghiên cứu KT và sử dụng các nhà KT học của VNCH thay đổi qua các thời kỳ.. Đại thể có thể chia làm 3 giai đoạn quan trọng nhất như sau:

Giai đoạn Ngô Đình Diệm. Về mặt KT là thời kỳ tương đối thái bình, chưa có những biến động lớn về chính trị và xã hội. Mỹ chưa đưa quân đội vào. CP Ngô Đình Diệm còn có chủ quyền trong 1 chừng mực nào đó để tổ chức nền KT, xây dựng một số mô hình phát triển. Giới KT học được sử dụng theo cách của Ngô Đình Diệm: bản doanh là Phủ Tổng thống để hoạch định những chủ trương và biện pháp KT.. Thời kỳ này CP Ngô Đình Diệm đưa ra những chủ trương về KT tương đối rõ ràng: phát triển có kế hoạch, chấn hưng KT, giảm bớt sự lệ thuộc vào ngoại viện, phát triển nội lực… Chính Tổng nha Kế hoạch đã góp phần giúp Phủ Tổng thống xây dựng Đệ nhất Ngũ niên kinh tế kế hoạch, từ 1957 tới 1962. Đây là kế hoạch KT tương đối hoàn chỉnh và rõ rệt, nó cũng có đem lại 1 sự tăng trưởng nhất định và ít nhiều ổn định cho KT, ngân sách và XNK. Vì lẽ đó mà giới KT cũng như dân chúng thường coi thời kỳ này là thời kỳ thái bình, đời sống tương đối dễ chịu, tuy chưa có nhiều viện trợ…

… Sau Ngô Đình Diệm tới trước khi Mỹ vào (1963-1965). Đây là giai đoạn gần như không có CP, không có chủ trương đường lối rõ ràng. Các CP thay đổi liên tiếp…

Trong thời kỳ 3 năm đầy đảo lộn đó, có thể kể tới mấy sự kiện KT lớn sau đây:

-Khi tướng M.Taylor làm Tổng chỉ huy quân đội kiêm Đại sứ Mỹ tại miền Nam, ông này rất lưu ý tới việc phát triển KT của miền Nam, coi đó là 1 điều kiện tối quan trọng đảm bảo cho chiến thắng về quân sự. CP Mỹ đã cử 1 chuyên gia KT là David Lilienthal sang phối hợp với CP VNCH để khởi thảo Kế hoạch KT hậu chiến (mà ô.Vũ Quốc Thúc là đồng tác giả).

Trong khi lo toan Kế hoạch KT hậu chiến, Mỹ và Phủ tổng thống đã sử dụng 1 chuyên gia trực chiến trong lĩnh vực KT là Nguyễn Hữu Hanh. Nguyễn Hữu Hanh đã thực hiện 1 loạt biện pháp để củng cố ngân sách, sử dụng viện trợ, ổn định tiền tệ, điều chỉnh tỷ giá, hạn chế lạm phát, điều chỉnh các mức giá, lương và thu nhập của các tầng lớp công chức.. Những biện pháp đó đã có tác dụng phần nào trong việc giảm bớt sức ép của sự thâm thủng ngân sách và sự tiêu điều của SX.

Giai đoạn Mỹ vào kể từ 1965 tới 1969. Thời kỳ này Nguyễn Hữu Hanh vẫn là người phụ trách chính về KT của VNCH. Nhưng đến lúc này thì VNCH phải thực hiện cơ chế KT và chính sách KT do Phái bộ viện trợ Mỹ (USAID) hoạch định. Vai trò của CP VNCH bị thu hẹp lại rất nhiều. Hầu hết mọi công việc, nhất là các quyết định, đều do các đoàn cố vấn và các cố vấn quyết định. Nguyễn Hữu Hanh chỉ là người soạn thảo và đưa ra các quyết sách theo tinh thần của USAID-VN…

Trong thời kỳ này, Vũ Quốc Thúc và nhóm của ông vẫn tiếp tục cùng với Lilienthal biên soạn bản Kế hoạch KT hậu chiến. Đến khoảng năm 1969 thì công trình này ra đời. Nhưng nó chưa được thực thi thì tình hình đã mau chóng biến đổi hoàn toàn khácvới những dữ liệu trong bản kế hoạch…

Theo GS Vũ Quốc Thúc, nội dung của Kế hoạch KT hậu chiến là đẩy mạnh khai hoang và làm thủy lợi kết hợp với điện khí hóa ở đồng bằng sông Mekong. Mục đích cuối cùng của kế hoạch này không phải là KT, mà là chính trị: theo Lilienthal, đụng đến vùng đồng bằng này là đụng đến vùng giải phóng và Mặt trận giải phóng. Vì những lợi ích KT, có thể là cả nông dân và chính quyền vùng giải phóng sẽ sẵn sàng tham gia vào kế hoạch này. Sự dính líu đó có thể làm suy yếu mối quan hệ giữa Miền Bắc với CP Mặt trận Giải phóng miền Nam… Nhưng kế hoạch này chưa được thực thi thì đã bùng nổ cuộc Tổng tiến công Mậu Thân… Mặt khác, vì kế hoạch này chỉ tính đến miền Nam, không tính đến Campuchia là thượng nguồn của sông Mê Kông, nên bị Campuchia phản đối. Nội công ngoại kích, kế hoạch Lilienthal-Vũ Quốc Thúc là 1 đứa con chết yểu…

Giai đoạn 1969-1975 là giai đoạn VN hóa chiến tranh. Từ đây, mức độ lệ thuộc vào Mỹ buộc phải giảm thiểu. Tinh thần tự lực tự cường, tự lực cánh sinh đã nảy nở trong guồng máy CP và đội ngũ KT gia.

1 trong những lá cờ đầu của tinh thần này là Nguyễn Văn Hảo. Vào 1973, ông giữ chức Tổng đốc Quỹ phát triển KT. Với tinh thần dân tộc khá triêt để, ông kiên quyết bài trừ nhập khẩu và tiêu dùng hàng ngoại, khuyến khích tiêu dùng hàng nội, cứng rắn trước những sức ép của viện trợ Mỹ…

Với những tính cách đó, ông được cử làm Phó Thủ tướng đặc trách lĩnh vực KT. Trên cương vị đó, ông đã đưa ra những quyết sách quan trọng như hạn chế nhập khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu, đẩy mạnh tiêu dùng nội địa. Chính ông đã từng ra lệnh cho công an đi tịch thu tất cà các loại thuốc lá ngoại trên thị trường như Winston, 555, Dunhill, Salem, Marlboro… Nguyễn Văn Hảo là người có tư tưởng bài Mỹ, chống lệ thuộc Mỹ, chấn hưng KT, nâng cao đời sống của những tầng lớp nghèo khổ. Điều đó đã tạo ra 1 uy tín đáng kể cho ông.

Cũng từ thời kỳ này, vận mệnh KT quốc gia dần dần được đặt vào tay những nhà điều hành KT. Nhưng đến lúc này thì sức sống của cả nền KT VNCH đã đi dần đến hơi thở cuối cùng. Ở thế cờ bĩ cực đó, những nhân tài cũng đành bó tay. Đó chính là điều mà sau này những nhà KT học còn ở lại như Vũ Quốc Thúc, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Văn Diệp, Nguyễn Xuân Oánh… đã thổ lộ.

Ảnh: TS Nguyễn Xuân Oánh và đạo sư Duy Tuệ

 

11 phản hồi to “Chân dung một số kinh tế gia miền Nam 54-75 theo Đặng Phong”

  1. Gaup said

    Mình đọc và thấy là đây là một khảo luận chính xác và hợp lý nên không hiểu vì sao Núi nhận xét là khó tin. Bản thân mình đánh giá cao các nhận xét về Vũ Quốc Thúc, Nguyễn Tiến Hưng, Nguyễn Hữu Hanh. Rõ ràng ông Đặng Phong bị chịu những hạn chế về địch ta nên ko thể nói lớn hơn nhưng những gì ông ấy viết ra, đặc biệt do đoạn viết này là về các nhân vật thuần túy kỹ trị và vì thế ít nhạy cảm hơn các nhân vật tôn giáo, quân sự trị khác, thường là chính xác do không cần né tránh. Bản thân mình thấy là tốt và hay và nhiều thông tin đúng đắn.

    Lý do DP đặt hai ông ở Pháp lên trên là vì cái bằng của hai ông đấy là bằng đi dạy được, tức là các ông ấy không chỉ có tiến sỹ mà còn được giấy phép chính thức đi làm thầy người khác – tất cả những người khác được kể tên đều ko có ai có cái việc làm thầy này nói rõ ra. Chính vì thế mình cũng đồng ý với cách phân loại xếp hạng của ông DP.

  2. Gaup said

    Quên, phải cảm ơn Núi lần nữa đã có công sưu tầm và type những tư liệu rất hay kiểu này cho các bạn đọc.

  3. N2Say said

    “Nếu xét về bằng cấp, thì ở toàn miền Nam lúc đó chỉ có 2 nhà kinh tế học có bằng cấp cao nhất là Vũ Quốc Thúc và Nguyễn Cao Hách

    Ngoài 2 nhà khoa bảng đàn anh kể trên, ở miền Nam có khoảng hơn 1 chục nhà KT học đã tốt nghiệp văn bằng tiến sĩ. Trừ trường hợp Nguyễn Văn Hảo lấy bằng TS KT ở Thụy Sĩ thì số tốt nghiệp ở Pháp…”

    “thì ở toàn miền Nam lúc đó” là lúc nào?

    Đúng là chỉ riêng trích đoạn trên đã có cái đầu thừa đuôi thẹo ko cần thiết.

  4. Cavenui said

    Khi viết bác Thúc bác Hách là 2 người có văn bằng cao nhất, rồi sau đó lại liệt kê những người có văn bằng tiến sĩ, hẳn tác giả Đặng Phong quan niệm bằng agrégé của 2 bác Thúc, Hách cao hơn bằng tiến sĩ. Đúng hay sai thì Cavenui không rõ vì hệ thống văn bằng của Pháp rất phức tạp, bản thân agrégé cũng có nhiều loại, tùy thuộc vào ngành.
    Cùng được dịch là “thạc sĩ” nhưng agrégé khác hẳn master, bằng dành cho những người học cao học (đại học nối dài), master luôn luôn thấp hơn tiến sĩ.

  5. Linh said

    Bài này hay thật. Cảm ơn bác Cavenui.
    Hơn 10 người có bằng tiến sĩ kinh tế làm việc ở miền Nam trong hơn 20 năm. Liệu có phải quá ít không nhỉ? Chẳng nhẽ bọn Mỹ không có viện trợ gì đáng kể về giáo dục cho chính quyền miền Nam?

  6. Cavenui said

    @Bác Linh: TS kinh tế ở miền Nam chắc không chỉ có mấy người được bác Phong nêu tên, ví dụ số TS được đào tạo ở chính VN chắc không ít nhưng bác Phong không nhắc tên người nào. Tuy nhiên đạt được bằng cấp ở tầm bác Thúc bác Hách thì không còn ai nữa.
    @Bác Gaup: Tất nhiên là em có hứng thú với bài bác Phong nên mới mất công gõ lại. Bác Phong có tư tưởng đổi mới, viết như bác Phong 15 năm trước chắc là không thể. Tuy nhiên em vẫn ngờ ngợ rằng (ngờ ngợ thôi nên mới chỉ nói là chưa nên vội tin chứ không dám bảo tin là sai) các KT gia miền Nam làm được cho nền KT miền Nam nhiều hơn vài chiêu thức kỹ thuật và nền KT miền Nam không chỉ là 1 nền KT lệ thuộc (điều mà theo bác Phong, các KT gia tử tế của miền Nam không muốn nhưng có phần bất lực trong việc uốn nắn lại tình hình).

  7. Linh said

    Cảm ơn bác Cavenui, ý tôi hỏi là vì có câu “Ngoài 2 nhà khoa bảng đàn anh kể trên, ở miền Nam có khoảng hơn 1 chục nhà KT học đã tốt nghiệp văn bằng tiến sĩ.”
    Về bằng thạc sĩ của ông Thúc và ông Hách,ở link này có giải thích về hệ thống của Pháp cho ngành Luật, chắc ngành kinh tế cũng thế:
    http://www.ninh-hoa.com/bk-ThuyNguyen_GiaoDucvaThiCu-5.htm

    “Sinh viên Luật thi tốt nghiệp mỗi cuối năm và sau 3 năm, nếu đậu được cấp bằng Cử Nhân Luật (Licence en Droit). Các giáo sư trường này thường là người Pháp có bằng Tiến Sĩ (Doctorat en Droit) hoặc Thạc Sĩ Luật Khoa (Agrégation en Droit). Thời gian học để lấy bằng Tiến Sĩ Luật Khoa mất khoảng 3 năm, sau khi đã đậu bằng Cử Nhân Luật. Muốn dự thi bằng Thạc Sĩ Luật Khoa, trước tiên thí sinh phải có bằng Tiến Sĩ.”

  8. Cavenui said

    Có 2 chi tiết gây phân vân, muốn hỏi người am hiểu:

    1. Thời kỳ Ngô Đình Diệm cầm quyền, ông (Vú Quốc Thúc) được giao giữ chức Thống đốc Ngân hàng Quốc gia. Đến 10/1956, do sự kỳ thị của anh em họ Ngô đối với người ngoài đảng Cần Lao, ông bị nghi vấn về chính trị, ông từ chức…

    2. ông (Nguyễn Hữu Hanh) đã từng giữ chức Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia (1955-1961).

    Thống đốc và TGĐ Ngân hàng Quốc gia là 1 hay 2 chức vụ? Nếu là 2 thì vai trò và quyền hạn như thế nào?
    Nếu là 1 thì từ 1955 đến 10/1956 ai giữ chức này?

  9. Cavenui said

    Trong comment hôm qua, em nhầm.
    Bác Đặng Phong có nhắc tên 2 TS đào tạo ở VN là Nguyễn Văn Ngôn và Lê Khoa.

  10. Tề Phi said

    Về bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ: Theo em hiểu trước đây ở Pháp cũng có hai loại bằng Tiến sĩ: tiến sĩ bình thường và tiến sĩ nhà nước. Việc có bằng tiến sĩ bình thường (doctorat) không đảm bảo được đi dậy học, mà vẫn phải qua kỳ thi Agrégation rất khó khăn (khó hơn việc có bằng tiến sĩ nhiều). Vì thế ông cụ em vẫn luôn bất bình vì chuyện tiếng Việt dịch Master là Thạc sĩ – đối với cụ thì Thạc sĩ là cái bằng có giá trị hơn nhiều.
    Đấy là thời trước, sau này hệ thống giáo dục Pháp dần dần đồng quy với các hệ thống khác ở phương Tây, điển hình là việc bỏ bằng tiến sĩ nhà nước (dù vẫn giữ lại một thứ ‘giả bằng’ gọi là habilitation), và đánh thấp giá trị của agrégation đi. Theo em hiểu hiện giờ muốn thi agrégation để đi dậy học cũng không nhất thiết phải có bằng tiến sĩ, nhưng vẫn phải ôn thi và thi rất mệt. Cái này các bạn học ở Ecole Normale Supérieure chắc biết rõ.

  11. Tề Phi said

    Về đóng góp của các nhà kinh tế thời kỳ trước 1974 (tức là trước khủng hoảng lần 1) cho một nền kinh tế trong chiến tranh và tranh chấp chính trị, em ngờ là cống hiến nhiều nhất cũng chỉ có thể ở việc giữ không cho chính quyền can thiệp và cướp bóc quá đáng thành quả sản xuất của tư sản mà thôi (cướp bóc theo dạng thuế khóa cho đến tịch thu). Lý do em nghĩ như vậy là:

    1) Chính sách kinh tế lúc này không có gì nhiều ngoài việc bơm tiền vào phần cầu (chính sách Keynesian, Mỹ về cơ bản cũng chỉ có chính sách này cho đến khi khủng hoảng lần 1). Những chính sách can thiệp tưởng chừng như có ảnh hưởng, thực ra vào thời đó khó mà biết trước làm việc gì đúng, việc gì sai. Nhất là trong môi trường thể chế sơ khai.

    2) Kế hoạch phát triển kinh tế, nếu thực sự được tốt như Tây Âu hay Nhật Bản trong cùng kỳ, thì cũng sẽ bị vướng vào vô vàn khúc mắc về chiến tranh và chính trị, và trên thực tế sẽ bị xẻ thịt bởi tham nhũng. Hơn nữa, kết quả phát triển kinh tế thời kỳ này nói chung là đều bắt nguồn từ tiền đầu tư tái thiết của Mỹ, vì thế kết quả tăng trưởng ở Tây Âu hay Nam Mỹ cũng không khác gì nhau. Việc kế hoạch hóa tốt hay không trong thời kỳ đầu chỉ có ảnh hưởng đến thời kỳ sau, mà lúc đó thì không còn nước VNCH nữa rồi.

    3) Vì thế, có lẽ công lao nhiều nhất cũng là giữ gìn một thể chế tốt, bảo vệ nhà tư sản khỏi móng vuốt của chế độ độc tài và quân sự, bảo vệ tự do thông tin báo chí, môi trường kinh doanh. Thế cũng là công lao lớn lắm rồi, nhưng nó thuộc về mặt “bị động” hơn là chủ động. Và như vậy, bác Ve có muốn tìm bằng chứng lịch sử của những công lao ấy, em e là khó …

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: