Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Thư viện

  • Bình luận mới nhất

    Adt on Lại thêm 1 bài không phải…
    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Đọc báo 5/2007 (3)

Posted by cavenui trên Tháng Sáu 29, 2007

1.

Tạp chí Âm nhạc Việt Nam– ấn phẩm thị trường mới của Hội Nhạc sĩ VN (những ấn phẩm thị trường trước đây của Hội đều chết yểu), số 2, tháng 5/2007 có bài của GSTS Trần Văn Khê về âm nhạc trong truyện Kiều. Đoạn đầu trả lời câu hỏi cây đàn của Kiều là cây đàn gì. Cavenui đã đọc được ý kiến của GS Trần Văn Khê về chuyện này từ lâu lắm rồi, cách đây có lẽ hơn 10 năm, nhưng hồi đó không ghi chép lại nên chẳng nhớ gì cả.

“Những họa sĩ thiết kế trang bìa thường vẽ Thúy Kiều ôm cây đàn Tì bà. Riêng tôi, tôi đã trả lời câu hỏi này từ lâu, đã có in ra bằng Pháp ngữ và Việt ngữ những tiểu luận về cây đàn ấy và đã khẳng định rằng Thúy Kiều không đàn cây Tì bà như phần đông các họa sĩ đã vẽ. Cây đàn trong tay Thúy Kiều vừa có thùng đàn tròn như mặt trăng: “Trên hiên treo sẵn cầm trăng”. Cây đàn ấy lại có 4 dây: “Bốn dây to nhỏ nên vần cung thương”. Cây đàn đó phải là 1 loại với Hồ cầm: “Nghề riêng ăn đứt, Hồ cầm một chương”. Sau khi xem trong sách Thích danh và Tự điển Từ nguyên-Từ Hải thì chỉ có 3 cây đàn thuộc về Tì bà loại: tứ huyền Tì bà, ngũ huyền Tì bà và Nguyễn Tì bà. 3 cây đàn ấy đều có thể được gọi là Hồ cầm. Nhưng 2 cây đầu thì thùng đàn hình bầu dục, chỉ có cây Nguyễn Tì bà tên thật là Nguyễn cầm do Nguyễn Hàm đời Tấn chế ra có thùng hình tròn như mặt trăng. Đàn có 4 dây, cần dài hơn Nguyệt cầm của Trung Quốc, hiện đã thất truyền tại TQ, chỉ còn hình vẽ Nguyễn cầm trong động Đôn Hoàng và 1 cây đàn nguyên bản trong Bảo tàng viện Shosoin tại Nara, Nhựt Bổn. Chúng ta cũng không thể nói đó là cây đàn nguyệt vì chữ Hán gọi là “Yue Qin” tức Nguyệt cầm thì thùng đàn tròn mà cần đàn rất ngắn thường ở trong tay người bán hàng rong chứ người quí tộc không sử dụng Yue Qin. Tiếng Việt đàn Nguyệt cầm ngày nay gọi là đàn Nguyệt, dưới thời cụ Nguyễn Du không được gọi là Nguyệt cầm mà mang tên đàn Song Vận. Điều này phỏng theo tư liệu đã in trong quyển “Đại Thanh hội điển sử lệ”, sử gia TQ có chép lại tên các cây đàn của dàn nhạc An Nam quốc nhạc, là 1 trong 9 dàn nhạc nước ngoài có mặt tại triều nhà Thanh tức là một thời đại với Nguyễn Du.

Vậy cây đàn Thúy Kiều sử dụng phải là Nguyễn cầm. Cụ Nguyễn Du có lẽ thích cây đàn Nguyễn cầm nên để nó trong tay Thúy Kiều và cả một người danh cầm khác ở Long Thành trong bài viết bằng chữ Hán có mấy câu:

“Long Thành cầm giả ca…

Độc thiện Nguyễn cầm…”.

2.

Tạp chí Tia Sáng số 9 ra ngày 5/5/2007 có dịch bài phỏng vấn GS Wolfgang Kubin– nhà Hán học nổi tiếng người Đức do tờ “Tiếng nói nước Đức” thực hiện, nội dung bài phỏng vấn nói về văn học Trung Quốc. Trong rất nhiều đoạn có thể thay từ Trung Quốc thành VN mà không thấy chối.

“Nếu như chúng ta có thể lấy mốc 1949 để phân giới nhà văn TQ, thì chúng ta sẽ phát hiện ra rằng, những nhà văn TQ trước năm 49 đều giỏi ngoại ngữ. Trương Ái Linh, Lâm Ngữ Đường, Hồ Thích… đều có thể viết văn bằng ngoại ngữ. Một số nhà văn giỏi nhiều ngoại ngữ, ví như Lỗ Tấn. Sau 1949, về cơ bản, bạn không thể tìm được 1 nhà văn TQ nào biết ngoại ngữ cả. Bởi vậy anh ta không thể nhìn lại tác phẩm của mình từ 1 hệ thống ngôn ngữ khác. Ngoài ra anh ta cũng không thể đọc được các tác phẩm ngoại văn. Anh ta chỉ có thể tiếp cận với những tác phẩm nước ngoài đã được dịch sang tiếng Trung. Bởi vậy, sự tìm hiểu và hiểu biết của nhà văn TQ về văn học nước ngoài cực kỳ kém, kém vô cùng”.

“Vấn đề cơ bản nhất là ý thức của họ (các nhà văn TQ)rất có vấn đề, tầm mắt của họ rất có vấn đề, giống như họ đang bị mắc kẹt trong 1 căn phòng nhỏ, không dám mở mắt ra nhìn thế giới. Vì vậy cho tới giờ, TQ vẫn chưa có tiếng nói riêng của mình nhìn từ góc độ văn học. Nước Đức đi tới đâu cũng có nhà văn, họ đại biểu cho nước Đức, cho người Đức để trò chuyện. Vì thế chúng tôi có giọng của nước Đức. Nhưng giọng của TQ thì ở đâu? Không có. Không tồn tại. Gan của nhà văn TQ quá nhỏ, hầu như không có”.

GS Kubin có nhận xét về một số tên tuổi đang nổi của Khựa.

Cuốn “Lang đồ đằng” (Totem sói) được ông coi là “thuộc về chủ nghĩa phát xít” và “làm TQ bẽ mặt”.

Tác phẩm của mấy nhà văn mỹ nữ như Miên Miên, Vệ Tuệ “không phải là văn học, đó là rác”.

Ngay cả Cao Hành Kiện với giải Nobel văn học cũng chẳng có giá trị gì, vì bản thân cái giải Nobel văn học “cũng chỉ là rác rưởi mà thôi”.

Advertisements

Một phản hồi to “Đọc báo 5/2007 (3)”

  1. đ.c.v said

    Sau khi Kubin phát biểu những lời trên, tháng 4 năm nay Đại học Bắc Kinh (TQ) có mời Kubin đến để diễn giảng. Nghe nói tranh luận nảy lửa lắm. Nghĩ thấy hay hay. Sau khi bị “chửi”, dám mời người chửi mình đến nhà để đối thoại. Ấy là bản lĩnh của người TQ. Dám vào tận nhà người ta tiếp tục “chửi”, ấy là bản lĩnh của Kubin. Công nhận Kubin nhận xét đúng về khả năng ngoại ngữ của đại bộ phận nhà văn TQ.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: