Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Lưu trữ

  • Phản hồi gần đây

    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    sonata on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Đọc báo 5/2007

Posted by cavenui on Tháng Sáu 18, 2007

Thitotnghiep

Hồ sơ sự kiện” là chuyên san của tạp chí Cộng sản, mỗi tháng ra 2 số vào ngày 10 và 25. Cavenui ít khi thấy tờ này ở các quầy báo, nhưng hôm nọ nhặt được tờ số 11, tháng 5/2007 chuyên về giáo dục, từ “tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục” đến những chuyện cụ thể như dạy sử, dạy giáo dục sức khỏe sinh sản ở trường phổ thông. In đẹp, ảnh màu, giá 7 ngàn đồng.

 

Trong bài “Lối thoát nào cho giáo dục đại học VN?”, GS Trần Đình Sử vạch ra 1 lối: cho các thày được đi Tây. Ông viết:

“Thời GS Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp việc chọn người gửi đi đào tạo tại các nước XHCN rất được coi trọng, kết quả là chúng ta có được 1 đội ngũ cốt cán làm nòng cốt cho việc đào tạo đại học và sau đại học cho đến nay. Nhưng từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ khi hệ thống XHCN Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, quan hệ giao lưu quốc tế thay đổi lớn, đội ngũ cán bộ kia liền tỏ ra bất cập, vì phần lớn không có điều kiện tiếp xúc với môi trường đại học Âu-Mỹ. TQ cũng có tình trạng như ta, nhưng họ nhanh chóng chuyển hướng: đưa hàng loạt cán bộ khoa học đào tạo trong nước và ở các nước XHCN (cũ), vốn đã có trình độ, đi đào tạo lại dưới hình thức thực tập sinh tại các nước Âu Mỹ. Làm như thế họ đạt được 3 mục đích. 1 là trang bị lại ngoại ngữ, 2 là trang bị lại kiến thức và 3 là xây dựng các quan hệ hợp tác khoa học mới. Nhờ thế, thế hệ cốt cán vừa duy trì vị thế, vừa có điều kiện đổi mới chương trình và giáo trình đào tạo, rút ngắn khoảng cách tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới. Chúng ta cũng có 1 thế hệ như thế, nhưng đã bị bỏ rơi, để cho bị tàn lụi. Họ ít có điều kiện tiếp cận với trình độ phương Tây, học trò do họ đào tạo ra vì thế mà cũng không theo kịp trình độ của thời đại, đặc biệt là các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Thế hệ cốt cán nói trên nay đã về hưu hoặc ngấp nghé về hưu, và xảy ra tình trạng hẫng hụt nghiêm trọng đội ngũ giảng viên có chất lượng. Đội ngũ giảng viên hiện nay chủ yếu được đào tạo trong nước, học trò của thế hệ thứ nhất. Nhược điểm trầm trọng của họ là không tinh thông ngoại ngữ, ít vốn liếng văn hóa Âu Mỹ và ít có quan hệ khoa học với các trường đại học Âu Mỹ. Nếu bỏ rơi nốt thế hệ này thì sự hẫng hụt giáo viên sẽ kéo dài thêm vài thập kỷ nữa. Độ tuổi của thế hệ này trung bình từ 35-50 tuổi. Cần có kế hoạch gấp rút cho thế hệ này được đi tu nghiệp ở các nước Âu Mỹ trong vòng từ 1 đến 3 năm, trang bị lại ngoại ngữ và kiến thức khoa học, trên cơ sở đó họ sẽ có đủ điều kiện phát huy vai trò cốt cán trong đào tạo cho đất nước trong khoảng 10-15 năm tới”.

 

Trong bài “Giáo dục trong sự song hành giữa nhà nước và thị trường”, tác giả Nhật Vũ nhận xét mặc dù ở nhiều nước, Chính phủ chấp nhận sự chi phối của thị trường trong giáo dục, nhưng vai trò nhà nước vẫn rất đậm. Tác giả liệt kê 4 lý do:

“Thứ nhất: sản phẩm giáo dục không chỉ nhắm đến một vài nhóm tiêu dùng mà đến toàn bộ xã hội. Thứ hai, quá trình hoàn thiện sản phẩm giáo dục rất dài, qua nhiều cấp độ, từ mẫu giáo, các cấp phổ thông, đại học hay trường dạy nghề… Từ đó đòi hỏi phải có một tổ chức đứng ra làm đầu mối liên kết các cấp độ theo 1 chương trình thống nhất, liên thông. Thứ ba, sản phẩm giáo dục mang tính quyết định cho sức mạnh khoa học-công nghệ, sự cạnh tranh quốc gia, cần nhận được sự hỗ trợ đặc biệt về chính sách và vật chất từ nhà nước. Thứ tư, giáo dục cơ bản là 1 trong những quyền của công dân, mà chỉ có nhà nước mới có thể huy động được nguồn lực toàn xã hội chia đều cơ hội tiếp cận cho mọi đối tượng”.

Tác giả nhận xét ở những nước chấp nhận xu hướng thị trường, trong hỗ trợ tài chính, chính phủ thường chọn hình thức cấp tiền trực tiếp cho học sinh chứ không cấp cho nhà trường:

“Nghĩa là cấp cho người tiêu dùng chứ không cấp cho người sản xuất. Thực tế đã chứng minh đây là quyết sách khôn ngoan, làm tăng tương đối nhu cầu của người học, do đó nhà trường cũng mạnh lên, nhưng quan trọng hơn là đảm bảo được quyền tự chủ tương đối trong hoạt động của nhà trường đối với chính phủ, tức đảm bảo được tính thị trường-1 động lực cho giáo dục phát triển trong sự cạnh tranh lành mạnh”.

 

Trong bài “Đào tạo phải gắn liền với nhu cầu xã hội”, GS Trần Quốc Định– Quỹ Giáo dục Hoa Kỳ so sánh:

“Sau sự kiện ở New York ngày 9/11, có trên 30 đại học đã đón đầu, mở ra chương trình đào tạo cử nhân, thạc sĩ về an ninh nội địa và chống khủng bố. Nhận thấy giao thương Mỹ-Trung Quốc tăng nhanh, để cung cấp chuyên gia, nhân lực cho các công ty có buôn bán và đầu tư với TQ, một số trường đại học đã thêm các môn học về TQ. Những sự thay đổi, đón đầu đó của các trường đại học, cao đẳng Mỹ không cần phải có 1 chỉ thị hay chính sách nào của Nhà nước, mà do BLĐ các trường đề ra… Trong khi thế giới đang nô nức vào VN đầu tư, nhưng chưa có trường học nào của VN bắt nhịp, mở những môn học về thương mại Hoa Kỳ, TQ…, mà vẫn loay hoay với các chương trình đã có từ hàng chục năm”.

Tác giả không hài lòng với tình trạng hợp tác giáo dục hiện tại:

“Tình hình về hợp tác giáo dục hiện nay vẫn còn cơ chế xin cho. Điều này làm nản lòng các đối tác chân chính và tạo kẽ hở cho những kẻ buôn bán chữ nghĩa và bằng cấp. 1 đại học có kiểm định phải mất hàng năm mới có giấy phép hoạt động, trong khi có những trường mà ở Mỹ chỉ có 1 văn phòng nhỏ, và không có kiểm định, lại công khai mở chương trình cao học dạy bằng tiếng Việt, làm bài bằng tiếng Việt để lấy bằng Thạc sĩ Mỹ!

Singapore có chính sách vĩ mô chỉ công nhận những trường nào đã là thành viên của cơ quan kiểm định Hoa Kỳ. Như vậy, với uy tín của cơ quan kiểm định Mỹ thì Singapore không còn lo ngại vấn đề chất lượng nữa. VN cũng có thể áp dụng chính sách này. Thí dụ, một số trường ở Mỹ đã có cơ quan kiểm định kiểm soát, thì cứ cho phép mở không cần thêm các giấy tờ nào cả, chỉ cần họ là thành viên của CHEA- Council of Higher Education Accreditation (www.chea.edu.org) là đủ. Bây giờ mà bắt đại học Harvard muốn mở 1 chương trình ở VN phải nộp những giấy tờ như để chứng minh mình là 1 đại học như giấy phép thành lập đại học, danh sách hội đồng khoa học, trương mục ngân hàng… thì làm sao mà những trường như Harvard dám vào?”.

 

GS Văn Như Cương có bài “Về dự án kỳ thi sau trung học phổ thông” phản đối dự án của Bộ GD&ĐT nhập 2 kỳ thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển vào đại học làm một:

“Về nguyên tắc, nếu 2 kỳ thi có mục tiêu khác hẳn nhau thì không nên nhập làm 1. Thi tốt nghiệp là nhằm kiểm tra xem các thí sinh có đạt được yêu cầu tối thiểu đã đề ra cho 1 khóa học, 1 đợt học, 1 đợt tập huấn… hay không? Nếu đạt thì cấp bằng tốt nghiệp hay chứng chỉ mãn khóa. Trong lúc đó, kỳ thi tuyển là nhằm lựa chọn trong các thí sinh những người có năng lực hơn người khác về những mặt nào đó để tiếp tục học tập hoặc làm việc theo những định hướng nhất định… Có bằng tốt nghiệp ĐH rồi, nhưng muốn có việc làm thì phải qua 1 kỳ thi tuyển công chức, mà kỳ thi tuyển công chức này không thể kết hợp với kỳ thi tốt nghiệp ĐH”.

Tác giả nhận xét kỳ thi ĐH có độ tin cậy cao hơn kỳ thi tốt nghiệp THPT vì kỳ thi tốt nghiệp THPT được tổ chức ở địa phương sở tại. Như vậy khi nhập làm 1 và tổ chức ở địa phương thì tiêu cực sẽ tăng lên. Nhưng cho dù kỳ thi “2 trong 1” được tổ chức nghiêm túc, không tiêu cực thì độ tin cậy vẫn là vấn đề cần đặt ra, khi dùng hình thức thi trắc nghiệm:

“Giả sử 1 trường ĐH A nào đó (trường ĐH Ngoại ngữ chẳng hạn) cần tuyển những học sinh khá 1 ngoại ngữ, họ rất muốn kiểm tra xem kỹ năng nghe, nói, viết, đọc của thí sinh đó như thế nào. Trong trường hợp đó, hình thức thi vấn đáp là tốt nhất, đáng tin cậy nhất. Nhưng vì điều kiện khó khăn nên trước đây đành phải chấp nhận ra đề thi tự luận. Bây giờ thì sao? Không vấn đáp đã đành, mà tự luận cũng không nốt, chỉ duy nhất 1 bài trắc nghiệm khách quan mà thôi. Các thí sinh có bằng trắc nghiệm tiếng Anh đạt điểm cao, thậm chí là điểm tuyệt đối, thì ngoài cái tài bôi đen vào các ô tròn ra, ta có thể nói gì thêm về các kỹ năng khác của họ? Có thể chấp nhận bài thi tốt nghiệp theo kiểu trắc nghiệm, nhưng bài thi tuyển chọn thì hoàn toàn không nên”.

GS Cương kết luận:

“Các tác giả của dự án 2 trong 1 có một động cơ rất tốt đẹp: đó là lòng mong muốn tiết kiệm tiền của cho Nhà nước và cho nhân dân. Nhưng có lẽ họ chưa tính toán đến cái giá phải trả (có thể rất cao) cho việc tiết kiệm đó. Nếu cuộc thi không đạt được sự tin cậy, để lọt rất nhiều người “đậu oan” thì sự lãng phí trong việc đào tạo cho những người đó là rất lớn. Chúng ta đang nói nhiều về việc học sinh “ngồi nhầm lớp”. Điều đó quá tai hại, nhưng chưa tai hại bằng sinh viên “ngồi nhầm lớp” vì rằng sau khi ra trường họ sẽ góp phần làm đông thêm đội ngũ những người “ngồi nhầm ghế” trong xã hội, nhất là những người ngồi nhầm ghế ở cương vị lãnh đạo, quản lý”.

 

Thày Hà Văn Thịnh ở ĐH Khoa học Huế thì bàn về chuyện học môn lịch sử. Ông nhận xét môn lịch sử trong SGK là khô khan và tẻ nhạt.

“Nếu suốt 12 năm ngồi trên ghế nhà trường phổ thông, luôn được nghe giảng đi giảng lại 1 công thức là ta chỉ có thắng, địch chỉ có thua, mất mát của ta là chung chung, thiệt hại của kẻ thù là cụ thể, thì rõ ràng môn sử không thể hấp dẫn… Áp đặt là điều tối kỵ của nhận thức. Vậy mà cứ nói đến phong kiến hay tư sản là y như rằng có các cụm từ “bè lũ quý tộc”, “bọn tư sản”. Sự thật còn bị đẩy xa đến mức vượt quá giới hạn của chân lý, khi chúng ta muốn đề cao 1 giá trị này liền tìm giải pháp bằng việc hạ thấp các giá trị kia (đánh giá Quang Trung và triều Nguyễn là 1 dẫn chứng điển hình)”.

Ông Hà Văn Thịnh yêu cầu viết lại SGK môn sử theo nguyên tắc khách quan và chính xác nhất có thể, đã không nói thì thôi, nói thì phải đúng:

“Sự việc mới xảy ra có vài chục năm mà ngay cả Bảo tàng Quân đội cũng không thể xác định nổi là chính ủy Bùi Văn Tùng hay đại úy Phạm Xuân Thệ thảo văn kiện đầu hàng cho Dương Văn Minh đọc, thì làm sao học sinh có thể có niềm tin vào những sự kiện cách đây lâu hơn? Lịch sử không thể “xếp” như xếp chỗ đậu cho xe tăng ở Dinh Độc lập: chiếc vào trước, đỗ trước nhưng thụt lại sau, chiếc vào sau, đỗ sau nhưng nhô lên trước”.

“Có 1 quan niệm phổ biến cho rằng, tính Đảng phải đặt lên trên hết. Tính Đảng là vấn đề thuộc tính nguyên tắc, nhưng nếu quá lạm dụng nó đến mức bất chấp cả hiện thực lịch sử, thì chân lý sẽ bị biến hình thành 1 dạng tri thức mơ hồ của sự lẫn lộn các khái niệm. Chính trị hóa lịch sử là con đường ngắn nhất để lịch sử trở thành khô khan, đơn điệu, nhàm chán”.

Ảnh: Hoàng Hà-VNExpress 15/6/2007

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: