Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Lưu trữ

  • Phản hồi gần đây

    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    sonata on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Nền kinh tế xô viết- Những đỉnh cao chỉ huy

Posted by cavenui on Tháng Sáu 1, 2007

Trong 1 topic ở TNXM, em có nhắc đến cuốn “Những đỉnh cao chỉ huy” của Daniel Yergin và Joseph Stanislaw.

“Những đỉnh cao chỉ huy” là cụm từ được Lenin sử dụng khi lăng xê chính sách kinh tế mới (NEP), 1 bước lùi tạm thời để lấy đà cho 2 bước tiến về sau trên con đường xây dựng thiên đường CS. Lenin trấn an các đ/c tả khuynh trong đảng bolshevik của ông rằng mặc dù Tân Kinh tế cho phép duy trì sở hữu tư nhân trong nông nghiệp và kinh doanh nhỏ nhưng thực ra chưa có gì nghiêm trọng vì Nhà nước vẫn nắm giữ “những đỉnh cao chỉ huy”.

Yergin và Stanislaw, 2 nhà lãnh đạo Viện Nghiên cứu Năng lượng Cambridge đã lấy chữ của Vladimir Ilich đặt tên cho 1 cuốn sách dày dặn của 2 ông nói về những thay đổi trong chính sách KT ở một loạt quốc gia trong thế kỷ XX, từ việc tăng cường vai trò của Nhà nước trong nền KT đến việc giảm thiểu vai trò của nó. Cuốn sách này giống như sách sử nhiều hơn là sách kinh tế, không có bảng biểu, công thức hay đồ thị mà lại có nhiều chi tiết lặt vặt bên lề, chắc chắn chưa làm dân KT thỏa mãn, nhưng dễ đọc đối với số đông.

Cuốn sách này đã được nhóm Phạm Quang Diệu dịch và in ở NXB Tri Thức năm 2006.

Dưới đây là phần viết về kinh tế Liên Xô trong chương nói về nền kinh tế XHCN và những cải cách thị trường sau đó ở Liên Xô và Đông Âu.

——–

.. Khi Stalin lên nắm quyền, ông kiểm soát chặt chẽ cả đời sống KT lẫn chính trị. Ông đã quốc hữu hóa SX, và vào cuối những năm 20, với sự khởi xướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, nền “KT chỉ huy” đã được ra đời.

Trong nền KT chỉ huy, cung và cầu không cân xứng. Các quyền lực được phân bổ tùy theo các quyết định quan liêu chứ không phải dựa trên những sự lựa chọn hình thành nên cung và cầu. Vấn đề ở đây là sự ưu tiên và mục tiêu của các nhà lãnh đạo chính trị được thực hiện thông qua cơ chế kế hoạch tập trung. Một loạt các cơ quan trung ương của CP giúp cho hệ thống vận hành. Tên của các cơ quan này đều được bắt đầu bằng từ gos, đây là từ viết tắt của 1 từ theo tiếng Nga có nghĩa là chính phủ. Gosplan quyết định về kế hoạch, trong khi đó Gosten hình thành giá cả và Gossnab phân bổ lượng cung ứng hàng hóa. Chính sách về lao động và lương do Gostrud chịu trách nhiệm. Với sự phối hợp của Đảng CS, các bộ ở Moskva chịu trách nhiệm đối với tất cả những quyết định quan trọng- 1 doanh nghệp sẽ sản xuất gì, nguồn cung cho xí nghiệp lấy từ đâu, chi phí sản xuất ra số hàng này là bao nhiêu, ai là khách hàng của họ và người tiêu dùng sẽ phải trả với mức giá là bao nhiêu. Các bộ cũng quyết định về số lượng lao động làm việc ở 1 DN, mức lương mà họ sẽ được trả và các hình thức đầu tư nên thực hiện. Trên thực tế, quá trình lập kế hoạch cũng bao gồm rất nhiều cuộc đàm phán với giám đốc các doanh nghiệp, cán bộ đảng và nhà nước ở cấp địa phương.

Các cuộc thử nghiệm KT về lợi nhuận và tính hiệu quả không nằm trong hệ thống KT của Liên Xô. Vấn đề thực sự nghiêm trọng là “hoàn thành kế hoạch”- hoặc ít nhất là được xem như hoàn thành kế hoạch. Thợ khoan dầu sẽ không được đánh giá dựa trên việc liệu họ có tìm ra dầu với mức giá kinh tế hay không mà họ sẽ được đánh giá theo tiêu chí họ đã khoan sâu được bao nhiêu mét. Trong khoảng thời gian từ thập kỷ 30 đến thập kỷ 70, hệ thống này đã gây được tiếng vang lớn trên khắp thế giới, vì nó được xem như 1 hệ thống phân phối hàng hóa về mặt công nghiệp hóa nhanh chóng và tăng trưởng KT cao. Sự tập trung cao độ các nguồn lực đã tạo ra tăng trưởng KT cao khi nó đưa Liên Xô từ 1 nước nông nghiệp thành 1 nước công nghiệp hóa- đáng chú ý nhất là nó được thực hiện trong khối hợp nhất quân sự-công nghiệp, mà sự mở rộng và trình độ kỹ thuật đã báo động cả thế hệ của John F.Kennedy. Nhưng quá trình tập trung này lại bỏ qua phát triển nông nghiệp, dịch vụ và hàng tiêu dùng. Nó cũng áp đặt các biện pháp cực kỳ cứng nhắc lên toàn bộ hệ thống, làm cho tất cả các loại hình KT đều hoạt động không hiệu quả. Thậm chí hệ thống còn trở nên phức tạp hơn và rất không hợp lý. Về lâu dài, chìa khóa đem lại sự thành công rõ rệt của Liên Xô vào những năm 50, 60 đã chứng tỏ là nguồn gốc của sự thụt lùi.

Những thị trường cụ thể vẫn tồn tại bên ngoài hệ thống KT, trong bóng tối, nhưng chúng giữ 1 vai trò quan trọng trong việc bôi trơn toàn bộ hệ thống và thực sự giúp cho hệ thống vận hành. Chỉ một phần nhỏ đất nông nghiệp được dành cho các trang trại tư. Tuy nhiên, nhà nước chính thức miễn cưỡng thừa nhận loại hình doanh nghiệp tư này và đây cũng là 1 điều tốt. Mặc dù các nông trường tư nhân này chỉ có kích thước bằng con tem thư so với các nông trường nhà nước và nông trường tập thể, nhưng chúng đã chứng tỏ tầm quan trọng của mình khi sản xuất ra hơn 25% sản lượng thịt và tới 50% sản lượng khoai tây. Không có một sự công nhận chính thức nào như vậy dành cho chợ đen. Những người vận hành chợ đen này được coi như “những kẻ ăn bám xã hội” và đôi khi còn bị bỏ tù. Nhưng thị trường này cũng rất cần thiết đối với cuộc sống thành thị. Trong các cửa hàng không có xúc xích. Nhưng nếu bạn muốn có xúc xích cho bữa tối thì bạn có thể mua nó ở chợ đen nếu bạn biết “cánh cửa phía sau cửa hàng”- và nhiều người đã làm như vậy.

Nền KT chỉ huy được phát triển dưới thời Stalin và được vận hành bởi những người kế nhiệm ông hoạt động có mục đích của nó. Bất chấp tất cả những lời nói hoa mỹ, mô hình KT này không hướng tới sự phồn thịnh và nâng cao mức sống cho người dân, mà thay vào đó, sự tồn tại của nó là nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa để nuôi khối hợp nhất quân sự-công nghiệp. Một phần rất lớn của GNP quốc gia được dành cho việc phát triển khu vực này và toàn bộ nền KT thì bị xếp sau những nhu cầu của khu vực này. Trong khi các vệ tinh của Liên Xô bay quanh trái đất và tàu ngầm hạt nhân đang tuần tra dưới biển thì mức sống của người dân mà hệ thống KT này đem lại thấp hơn nhiều so với đa số mọi người nghĩ.

Vào đầu những năm 70, 1 điểm yếu tai hại của hệ thống đã bộc lộ rõ ràng: phần lớn hệ thống không thể đổi mới được nữa. Không có động lực, không có lý do nào để tạo ra sự đổi mới… Sự cứng nhắc này cũng được áp dụng đối với toàn bộ hệ thống phân phối và đầu tư. Năm này qua năm khác, một lượng tiền lớn được phân bổ cho các dự án tưới tiêu- với số tiền nhiều gấp 20 lần so với số tiền được phân bổ cho thông tin liên lạc. “Trong thời gian 20 năm, với những khoản đầu tư khổng lồ cho dự án tưới tiêu, người ta không thấy có sự tiến bộ rõ rệt nào trong nông nghiệp”, nhà KT học người Nga Yegor Gaidar nói, “nhưng người ta lại không thể giảm lượng đầu tư này, cho dù là giảm một chút, vì việc này đã được thực hiện 1 năm, 2 năm, 5 năm và 10 năm trước”.

Tốc độ tăng trưởng giảm mạnh. Hệ thống đã từng có khả năng thúc đẩy tăng trưởng nhờ 1 thế lực hùng mạnh, nhưng giờ đây chính sự cứng rắn của nó đã ngăn cản tăng trưởng. Các quốc gia bắt đầu nhập khẩu công nghệ Tây Âu, nhưng như trường hợp Ba Lan, công nghệ này không được ứng dụng hiệu quả. Bộ phận chính của máy móc bị hoen rỉ hết. 1 hệ thống vốn tạo ra tăng trưởng KT thì bây giờ đang trong quá trình tự tan ra. Nhưng ngay sau đó, giống như trong 1 bi kịch Hy Lạp, vị cứu tinh đã xuất hiện. Nhưng vị cứu tinh này hóa ra chỉ thực hiện bổn phận một cách tạm thời. Nền KT lấy mô hình của nguồn dầu mỏ khổng lồ ở phía tây Siberia vốn được phát hiện và lần đầu tiên khai thác vào cuối thập kỷ 60. Nguồn dầu mỏ này trở nên có giá trị hơn nhiều trong giai đoạn 1973-1974 khi mà cuộc khủng hoảng dầu mỏ đầu tiên xảy ra khiến giá dầu thô tăng gấp 4 lần. Liên Xô, vốn là 1 trong những nước xuất khẩu dầu lớn trên thế giới, đã thu được lợi nhuận khổng lồ. Nguồn thu ngoại tệ mạnh tăng lên từ việc xuất khẩu dầu, sau đó là khí gas, đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng để giữ cho hệ thống KT đang sụp đổ tiếp tục vận hành mà không cần tiến hành cải cách hoặc chuyển đổi các nguồn lực từ khối liên hợp quân sự-công nghiệp.

Thế hệ kế tiếp của những nhà lãnh đạo cao tuổi của Liên Xô vào đầu thập kỷ 80- gồm có Leonid Brezhnev, Yuri Andropov và Konstantin Chernenko- là biểu tượng hoàn chỉnh cho 1 hệ thống kinh tế trước thời kỳ suy thoái. Chỉ đến năm 1985, khi mà 1 nhà lãnh đạo trẻ tuổi và năng động- Mikhail Gorbachev- lên nắm quyền thì bộ máy lãnh đạo mới muốn nghĩ tới khả năng xảy ra khủng hoảng. Gorbachev dự định sẽ thúc đẩy cải cách. Ông tin rằng hệ thống KT của Liên Xô đang ngày càng bị tụt lại. Ông nói: “Hệ thống KT của chúng ta cồng kềnh đến mức không thể phản ứng được trước những thách thức của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ”. Ông quá kinh hoàng bởi mức độ tồi tệ của nền KT. “Chúng tôi đã có dự định lập ra 1 ủy ban nhằm giải quyết các vấn đề thiết yếu của Liên Xô”, sau này ông nhớ lại. “Một đất nước nghiên cứu vũ trụ và phát triển quân sự, nhưng không thể SX đủ tất chân cho phụ nữ, không thể SX đủ kem đánh răng hoặc những thứ đơn giản nhất cho cuộc sống của người dân. Đây thực sự là 1 điều đáng xấu hổ khi làm việc trong chính quyền này”.

(còn nữa)

Một phản hồi to “Nền kinh tế xô viết- Những đỉnh cao chỉ huy”

  1. Rồng said

    Bài viết nhiều số “1” quá! Đọc rất khó chịu!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: