Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Lưu trữ

  • Phản hồi gần đây

    Adt on Lại thêm 1 bài không phải…
    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Kornai János và 2 con đường dẫn tới nền kinh tế tự do

Posted by cavenui on Tháng Tư 30, 2007

Kornai János là kinh tế gia người Hungary nổi tiếng với những công trình nghiên cứu nền kinh tế XHCN, một vài cuốn trong số đó đã được Nguyễn Quang A dịch ra tiếng Việt.

Một trong số những tác phẩm nổi tiếng của Kornai là “Con đường dẫn tới nền kinh tế tự do”, cái tên cố tình nhái “Con đường dẫn tới chế độ nông nô” của Hayek. Kornai viết “Con đường” năm 1989, khi ở Đông Âu chưa xảy ra những biến động lịch sử nên con đường của ông chưa có người đi. “Con đường” của Kornai từ bỏ ý tưởng của “chủ nghĩa xã hội thị trường” là phải giữ ưu thế của sở hữu nhà nước, mà gắn với sự điều tiết của thị trường. Trong số những độc giả của Kornai János ở các nước XHCN lúc đó có Balcerowicz (Ba Lan), Vaclav Klaus (Czech), Yegor Gaidar và Anatoly Chubais (Nga)- họ là những người sau đó ít lâu phải chịu trách nhiệm chèo lái nền kinh tế đất nước họ trên con đường dẫn tới nền kinh tế tự do.

10 năm sau “Con đường”, nhìn lại những cuộc cải cách KT ở các nước Đông Âu và Nga, Kornai János có dịp đánh giá lại tác phẩm của mình dưới hình thức 1 bản báo cáo tại cuộc hội thảo thường niên ABCDE (Annual Bank Conference on Development Economics) do WB tổ chức. János khẳng định ở thời điểm 1999, một số cuộc cải cách KT đã thành công vì nó cơ bản đã đi theo “con đường” của ông, những cuộc cải cách ở một số nơi khác đã thất bại vì nó đi theo con đường khác-tư nhân hóa tăng tốc. Bản báo cáo này đã được Nguyễn Quang A dịch ra tiếng Việt như phần phụ lục bổ sung cho tác phẩm chính “Con đường dẫn tới nền KT tự do” in ở NXB Tri Thức, thuộc Tủ sách S.O.S, tái bản lần thứ 1 vào năm nay.

Cavenui lược trích phần đề cập đến 2 con đường khác nhau áp dụng ở một số nước XHCN cũ.

Chiến lược A- chiến lược phát triển hữu cơ, có 5 đặc trưng chính:

1. Nhiệm vụ quan trọng nhất là tạo điều kiện cho sự phát triển từ dưới lên (bottom-up) của khu vực tư nhân. Lực thúc đẩy chính cho sự phát triển của khu vực tư nhân là sự tham gia mới hàng loạt của các doanh nghiệp. Phải trợ giúp sự phát triển này bằng nhiều công cụ và biện pháp:

– Các rào cản đối với sự tham gia tự do phải được phá bỏ

– Sở hữu tư nhân phải được đảm bảo an toàn. Phải thiết lập các thể chế để thực thi sự thực hiện các hợp đồng tư nhân.

– “Hành động tán đồng” được áp dụng với sự cẩn trọng là cần thiết cho xúc tiến phát triển của khu vực tư nhân, thí dụ trong chính sách thuế và tín dụng.

2. Phần lớn các công ty thuộc sở hữu nhà nước phải được tư nhân hóa. Kỹ thuật cơ bản để thực hiện tư nhân hóa là bán. Các tài sản nhà nước phải được bán chủ yếu cho người ngoài, ưu tiên bán cho những người không chỉ trả giá xứng đáng, mà còn cam kết đầu tư vào công ty. Nếu người mua là người nội bộ thì vẫn phải trả giá thật. Tư nhân hóa bằng cách bán cho người nội bộ không được phép thoái hóa thành dạng cho không trá hình.

3. Hệ quả của đặc trưng số 2 là bất kể dạng chia chác cho không nào của tài sản nhà nước đều phải bị loại bỏ.

4. Phải ưu tiên cho các sơ đồ bán nào tạo ra cơ cấu sở hữu với các đặc tính sau:

Công ty có 1 chủ mang tính trội. Người chủ chính này có thể là 1 doanh nhân hay 1 nhóm chủ sở hữu, hoặc 1 công ty tư nhân đã có lịch sử sở hữu tư nhân- có thể là sở hữu của người trong nước hay nước ngoài. Đặc biệt mong muốn loại chủ là nhà đầu tư chiến lược, người sẵn sàng đỡ công ty bằng cách bơm đáng kể vốn mới vào.

Khi dạng công ty cổ phần công cộng được chọn, không cần loại bỏ tình trạng là sẽ có một số cổ phần tản mác. Tuy vậy điều mong muốn là mỗi công ty có 1 chủ chính theo nghĩa vừa nói ở trên.

5. Ràng buộc ngân sách với các công ty phải được thắt chặt để đảm bảo kỷ luật tài chính thiết yếu cho hoạt động của nền KT thị trường. Một tập hợp các luật phải được thông qua, trong đó có luật phá sản, luật kế toán, luật ngân hàng. Tiếp theo giai đoạn lập pháp, mọi luật phải được thực thi một cách nhất quán. “Bộ ba” tư nhân hóa, tự do hóa và ổn định hóa sẽ chưa đủ để cho quá độ thành công. Thắt chặt ràng buộc ngân sách cũng có vai trò quan trọng cùng với các điều này.

Các công ty quốc doanh thua lỗ kinh niên không cần phải được tư nhân hóa bằng mọi giá hoặc duy trì sự sống nhân tạo quá lâu. Khi ràng buộc ngân sách được thắt chặt, nó sẽ thực hiện quá trình chọn lọc tự nhiên giữa các công ty này. Các công ty trở nên có lãi có thể bán được không sớm thì muộn. Còn các công ty không thể bán được, do nó có giá trị bằng 0 hay âm, phải thực hiện quá trình phá sản với chúng, chứ không được cho không chúng. Tư nhân hóa thông qua phá sản và thanh lý là 1 trong những kỹ thuật chính để chuyển đổi sở hữu.

Tỷ lệ tổng sản lượng của khu vực tư nhân sẽ tăng, 1 mặt do xuất hiện nhiều doanh nghiệp tư nhân mới, mặt khác do khu vực quốc doanh co hẹp lại (co hẹp bằng 2 cách: bán cho tư nhân, hoặc bị phá sản và rút khỏi).

Chiến lược B– chiến lược tư nhân hóa tăng tốc có thể được mô tả với 3 đặc trưng.

1. Nhiệm vụ quan trọng nhất là loại bỏ sở hữu nhà nước càng nhanh càng tốt.

2. Kỹ thuật tư nhân hóa chính là hình thức cho không nào đấy, thí dụ sơ đồ phiếu chứng chỉ (voucher) tư nhân hóa, theo đó quyền sở hữu trong các công ty quốc doanh cần tư nhân hóa được phát không, chia đều cho mọi công dân của đất nước. Cách tiếp cận này có thể gắn với việc chấp nhận thậm chí khuyến khích lãnh đạo xí nghiệp mua lại. Trong nhiều trường hợp, hóa ra hầu như là BLĐ mua lại hết với giá trả rất thấp, điều đó tựa như nhận được quyền sở hữu trong công ty mà không phải trả tiền.

3. Không cần phải chứng tỏ bất kể sự không ưu tiên nào với sự tản mác của sở hữu. Điều cần nhấn mạnh là tất cả mọi công dân đều được chia quyền sở hữu của các xí nghiệp trước đó thuộc sở hữu nhà nước, và như thế “chủ nghĩa tư bản nhân dân” phát triển.

Những người ủng hộ chiến lược B cũng tán thành phát triển XN tư nhân từ dưới lên, nhưng họ không nhấn mạnh trong các khuyến nghị của mình, trong đó những người ủng hộ chiến lược A nêu vấn đề này lên hàng đầu của cuộc cải cách sở hữu.

Nếu được hỏi, những người ủng hộ chiến lược B cũng tán thành thắt chặt ràng buộc ngân sách về nguyên tắc. Họ không nhấn mạnh điều này vì hy vọng rằng tư nhân hóa sẽ tự động thắt chặt ràng buộc ngân sách.

Sự khác biệt quan trọng nhất giữa 2 chiến lược là đặc trưng nào được lưu tâm nhất. Trọng tâm của chiến lược A là thúc đẩy sự phát triển của 1 khu vực tư nhân mới, trong khi chiến lược B lấy việc thanh lý nhanh chóng khu vực quốc doanh làm trọng tâm.

Con đường và các bài viết khác của tôi gần thời gian đó đã phác họa chiến lược A. Nhưng chỉ có một thiểu số nhỏ các nhà kinh tế hàn lâm phương Tây ủng hộ chiến lược này. Tuyệt đại bộ phận các nhà chuyên môn truyền bá chiến lược tư nhân hóa nhanh chóng; nhiều khi sử dụng các luận điệu hằn học rất thô bạo.

Sau 10 năm, tôi hoàn toàn an tâm rằng chiến lược A khuyến khích sự tăng trưởng hữu cơ của khu vực tư nhân là chiến lược đúng đắn. Chiến lược B tư nhân hóa tăng tốc cưỡng bức may nhất cũng chỉ là chiến lược kém cỏi và tồi nhất thì thực sự thất bại.

Hungary đã theo đuổi chiến lược A. Theo cả 5 đặc trưng đã trình bày ở trước thì quá độ ở Hungary theo sát nhất con đường phát triển hữu cơ của khu vực tư nhân.

Mặc dù không nên lý tưởng hóa con đường Hungary (vì chắc chắn đã xảy ra nhiều sự lạm dụng, kể cả trong tư nhân hóa theo kiểu bán, tuy không có vụ xì căng đan tham nhũng lớn nào) nhưng rõ ràng thành quả kinh tế là đầy ấn tượng. Hàng trăm ngàn doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ mới đã xuất hiện. Việc thắt chặt ràng buộc ngân sách đầu các năm 90 đã tạo cho quá trình chọn lọc tự nhiên quét dọn lĩnh vực doanh nghiệp. Điều này trùng hợp với sự tăng cường kỷ luật tài chính. Chuỗi xích nợ nần lẫn nhau giữa các công ty bị phá vỡ và tình trạng thực thi hợp đồng tư nhân được cải thiện. Đã có sự khởi đầu trong củng cố lĩnh vực ngân hàng. Tất cả sự phát triển này tạo ra sức thu hút mạnh vốn nước ngoài. Dòng vốn chảy vào mạnh đã là 1 trong những nhân tố chính lý giải năng suất lao động và thành tích xuất khẩu của Hungary.

Tại Ba Lan, đôi khi xuất hiện những phát biểu ve vãn các ý tưởng của chiến lược B, nhưng những chính sách KT thực tiễn lại luôn gần với chiến lược A. Phần đông các nhà kinh tế Ba Lan hiện nay công nhận rằng những lý giải chính cho thành công ở Ba Lan, ngoài thành công của ổn định hóa vĩ mô thì còn bao gồm sự tham gia mới hàng loạt, s
phát triển từ dưới lên mãnh liệt của khu vực tư nhân và dòng chảy vào của vốn nước ngoài.

Đầu những năm 1990, lãnh đạo CH Czech muốn áp dụng chiến lược B. Vaclav Klaus, nhà kinh tế- thủ tướng Czech là người đi tiên phong của cơ chế phiếu tư nhân hóa (voucher scheme).

Chương trình được áp dụng một cách kiên quyết, nhưng nó không mang lại kết quả như những người khởi xướng mong đợi. Giai đoạn đầu, tài sản được phân chia tản mạn cho hàng triệu chủ phiếu, rồi được tập trung lại sau đó vào tay của cái gọi là các quỹ đầu tư. Các quỹ lại thiếu lực về vốn để phát triển các công ty lạc hậu hoặc để đầu tư thật sự. Chúng lại được cấu kết với các ngân hàng thương mại lớn mà ở đó nhà nước là người chủ chính yếu hay duy nhất. Cơ cấu sở hữu như vậy đã bất lực trong việc xây dựng sự quản trị doanh nghiệp mạnh mẽ. Tái cơ cấu kéo lê thê. Bất chấp những hùng biện về tự do kinh doanh theo kiểu Chicago, ràng buộc ngân sách trên thực tế vẫn mềm. Nếu tư nhân hóa bằng cách bán tạo ra và nuôi dưỡng sự chọn lọc tự nhiên thì chuyển quyền sở hữu theo kiểu ban phát cho không lại bảo tồn cấu trúc hiện tại.

Điển hình đáng buồn nhất cho sự thất bại của chiến lược B là trường hợp nước Nga. Tại đây mọi đặc trưng của chiến lược xuất hiện ở dạng cực đoan: sơ đồ phiếu được áp đặt cho cả nước, gắn với sự chuyển nhượng quyền tài sản được thao túng ở mức hàng loạt chuyển vào tay giới quản lý và các quan chức hưởng đặc quyền. Trong môi trường như vậy một cuộc “cải cách sở hữu” chưa từng có trong lịch sử đã xảy ra, trong đó sở hữu của các tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là của dầu và khí, đã bị bọn cường quyền-oligarch chiếm đoạt.

Tất cả các biến cố này gắn chặt với tàn dư của triệu chứng ràng buộc mềm về ngân sách, ở dạng mà nó xâm nhập, gặm sâu vào và tạo ra những tác hại lớn.

Nga trở thành 1 “xã hội không chi trả” (non-payment society). Các công ty không chi trả các nhà cung cấp của họ, cũng như người sử dụng lao động không trả người lao động, con nợ không trả ngân hàng. Tất cả điều này lại được giới điều hành và tòa án cam chịu chấp nhận. Thực ra, nhà nước đã nêu gương xấu do thường xuyên dây dưa nợ lương, tiền hưu trí và đóng góp bảo hiểm đối với viên chức nhà nước.

Hãy trở lại với các lý lẽ nghe được trong cuộc tranh luận.

1. Những người ủng hộ chiến lược B đã hăm hở viện chứng những quan tâm về đạo đức. Mỗi công dân phải được cấp một phần bằng nhau của tài sản trước đây của nhà nước vì lý do công bằng. Thực tiễn đã chứng minh dứt khoát rằng đây là 1 lý lẽ ngụy biện. Sự phân bổ ban đầu chỉ tồn tại trong một giai đoạn rất ngắn, trước khi nó dọn đường cho sự tập trung cao độ sở hữu của các tài sản trước đây của nhà nước. Trong trường hợp Nga, nó đã dẫn tới 1 hình thức phát triển TBCN độc đoán, phi lý, quái ác và hết sức bất công.

Bán các tài sản nhà nước đúng giá, sẽ không thay đổi sự phân phối của cải hay thu nhập. Của cải của nhà nước không hề bị giảm đi, nó chỉ thay đổi hình thức. Thu nhập từ bán tài sản trong tư nhân hóa phải được đầu tư hữu ích, chứ không phải để tiêu dùng. Hungary đã sử dụng nguồn thu này để trả nợ nước ngoài, trong giai đoạn tư nhân hóa mạnh mẽ, khi mà phần lớn khu vực năng lượng và viễn thông được mang bán. Kết quả giảm chi trả lãi và sự cải thiện đáng kể khả năng chi trả của đất nước đã mang lại lợi ích thực sự cho mỗi công dân.

2. Sự nhấn mạnh thích đáng được đặt ra về phương diện xã hội học trong dòng lập luận của những người ủng hộ chiến lược A. Quá trình tư sản hóa xã hội, với sự phát triển của tầng lớp có tài sản, là thiết yếu cho sự củng cố của CNTB.

3. Lý lẽ hấp dẫn nhất liên quan đến tính hiệu quả kinh tế. Lĩnh vực này đã chứng tỏ sự ưu việt của chiến lược A. Các công ty tư nhân mới thường hiệu quả hơn các công ty thuộc sở hữu nhà nước hay các công ty trước thuộc sở hữu nhà nước đã được tư nhân hóa trong quá trình quá độ. Kinh nghiệm cũng chứng minh sự tản mác của sở hữu và sự duy trì ràng buộc về ngân sách mềm làm chậm trễ sự tăng trưởng của năng suất. Tinh thần doanh nghiệp của Schumpeter, sự quét bỏ các công ty kém hiệu quả, các chủ thực và mới kiên trì thiết lập thứ bậc, vốn nước ngoài hài lòng tiến hành đầu tư lớn và hiện đại- những thứ đó cùng nhau đẩy sự gia tăng năng suất và nâng cao thành tích xuất khẩu.

4. Cuối cùng, có các lý lẽ chính trị. Chính chương trình phiếu chứng chỉ tư nhân và sự trì hoãn tiến hành tái cơ cấu đau đớn là nhân tố quyết định cho thắng lợi của đảng cầm quyền trong lần bầu cử tự do thứ 2 của CH Czech. Đây là trường hợp duy nhất ở khu vực Đông Âu trong thập niên qua, CP trụ được cho cả 2 nhiệm kỳ. Ngược lại, các liên minh cầm quyền trong chu kỳ QH đầu tiên ở Hungary và Ba Lan đã thất bại trong lần bầu cử thứ
2. Các liên minh đối lập lên cầm quyền về cơ bản vẫn tiếp tục chiến lược A như liên minh cầm quyền trước. 4 năm sau, sau khi tránh dùng phương thức tư nhân hóa ban phát như 1 vũ khí tranh cử, đến lượt họ lại bị thất bại trong bầu cử. Như vậy chiến lược B rõ ràng có lợi hơn theo tiêu chuẩn giữ quyền lực của Machiavell.

Những người chủ trương chiến lược B, đặc biệt là ở Nga, luôn lập luận rằng nếu có 1 cơ hội hé ra để tư nhân hóa thì phải nắm lấy ngay và tiến hành tư nhân hóa nhanh chóng. Phải tranh thủ tiến hành mau trong l bộ máy nhà nước quan liêu còn đang ở trong trạng thái mơ hồ, yếu và không thể chống trả được. Lý lẽ này không thể khẳng định hay chối bỏ bằng suy luận logic thuần túy. Tuy nhìn lại thì rõ ràng nền dân chủ Czech không hề bị đe dọa bởi sự phục hồi CS hay sự xuất hiện của xe tăng xô viết, nhưng cũng phải thừa nhận là điều này không được rõ ràng lắm ở thời điểm năm 1991.

Đánh giá lại tình hình Nga sẽ đặc biệt nan giải nhìn từ khía cạnh này. Giọng điệu sau luôn được nhắc đi nhắc lại: tư nhân hóa hàng loạt phải được tiến hành mau lẹ trước khi đảng CS thắng cử, không có loại tư nhân hóa nào có thể được thông qua ở Duma khi mà đảng CS trở thành đảng có tiếng nói chính ở đó.

Tôi nghĩ rằng có 1 sự lý giải nhân quả sai lầm, lộn đầu đuôi ở lập luận này. Giá như tư nhân hóa đã được tiến hành theo cách khác, không kéo theo biết bao nhiêu sự lạm dụng trắng trợn và những thiệt hại xã hội vô ích thì chắc chẳng có sự hoài tưởng mạnh mẽ như thế ở Nga về hệ thống CS. Nhát đâm cải cách sở hữu vào xã hội có gây ra sự không thể đảo ngược được. Tuy vậy 1 nền tảng vững chắc cho sự tăng tiến không thể đảo ngược được của CNTB sẽ được tôn tạo nếu tư sản được phát triển rộng rãi, quyền sở hữu và hợp đồng tư nhân được áp dụng một cách nhất quán, dân chủ được thể chế hóa và KT thị trường nhận được sự ủng hộ của đa số cử tri.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: