Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Thư viện

  • Bình luận mới nhất

    Adt on Lại thêm 1 bài không phải…
    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Đọc báo 3/2007 (2)

Posted by cavenui trên Tháng Tư 23, 2007

Tạp chí Thành Đạt số 3/2007 có bài “Ta khác với người” của ô.Triệu Tôn Phong, GĐ điều hành Cty tư vấn và phát triển thị trường MSV nói về những hoạt động marketing phổ biến ở xứ người nhưng ít gặp ở xứ ta. Tác giả đặc biệt nói nhiều về quảng cáo so sánh mà ông gọi là hình thức xúc tiến thương mại phổ biến ở các nước công nghiệp phát triển của WTO:

“Mỗi doanh nghiệp có quyền nêu bật tính năng và giá bán của mình so với nhãn hàng cạnh tranh. Đây là cách tốt để tôn vinh thành quả lao động trong SXKD… Cách quảng cáo như vậy đã tiêu diệt sự ù lì, tự mãn của doanh nghiệp. Điều này cũng góp phần tạo nên động lực phát triển cho toàn xã hội. Để phát huy tinh thần thi đua lành mạnh một cách tốt nhất, các doanh nghiệp không những được phép so sánh cùng loại sản phẩm mà còn mở rộng cho cả nhóm hàng hóa, dịch vụ cùng thỏa mãn một nhu cầu

Tại VN, Luật Thương mại và cạnh tranh cấm quảng cáo so sánh. Chúng ta quan niệm rằng, quảng cáo so sánh là nói xấu đối thủ.

Đúng vậy, nó là hệ quả tất yếu của việc cạnh tranh vô tổ chức và thiếu ý thức. Ở các nước công nghiệp, quảng cáo so sánh được kiểm soát hiệu quả bởi những quy định pháp lý nhằm chống cạnh tranh không lành mạnh. Quảng cáo so sánh luôn được cổ vũ và bảo vệ trong điều kiện nội dung thông tin phải khách quan và cụ thể để có thể kiểm chứng. Những hoạt động so sánh dễ gây nhầm lẫn từ người tiêu dùng hoặc thể hiện sự miệt thị, làm mất uy tín, mất giá trị nhãn hàng cạnh tranh đều bị nghiêm cấm và lên án”.

Trên tạp chí “Nhịp cầu Đầu tư” số 15/3/07, LCT Lawyers chỉ ra tính hình thức trong việc đăng ký kinh doanh ở VN. Nếu như ở nước ngoài người ta thường nói “substance over form” thì các thủ tục đăng ký kinh doanh ở VN lại cho thấy điều ngược lại “form over substance”.

Ví dụ về tên doanh nghiệp: theo quy định, tên DN phải ghi bằng tiếng Việt, DN có vốn đầu tư nước ngoài muốn sử dụng tên bằng tiếng nước ngoài chỉ được dùng tên công ty mẹ.

“Chính vì quy định này mà có những tên tiếng nước ngoài khi dịch sang tiếng Việt hoàn toàn không mang 1 ý nghĩa nào như Công ty Hậu cần Quyền lực (Power Logistics Corporation), Cty Chuyên Nhân tạo (Artificial Pro Inc.)… Các nước quanh ta đều cho phép DN sử dụng tiếng nước ngoài đặt tên nhằm nâng cao khả năng hội nhập như TQ có Cty Lenovo, Haier, Chery; Hàn Quốc có Lucky Goldstar (sau này là LG); Nhật có Sony…

… Việc buộc đặt tên DN bằng tiếng Việt bất kể tên đó có ý nghĩa không, có trong sáng và ăn sâu vào tâm trí người tiêu dùng hay không vô hình trung lại là quy định quá hình thức, gây cản trở cho DN VN khi cạnh tranh với DN nước ngoài hoạt động trên cùng địa bàn.

Việc quy định tên bằng tiếng nước ngoài của DN có vốn đầu tư ra nước ngoài phải là tên Cty mẹ cũng là 1 cản trở với các DN. Nhiều DN thành lập tại VN thông qua các Cty mẹ có tên khác với tên DN tại VN. Ví dụ tên DN ở VN là Coca Cola, nhưng tên Cty mẹ ở nước ngoài là Fraser & Neaves. Đối với đăng ký tên DN, chỉ cần quy định ai đăng ký trước được ưu tiên đặt tên trước là đủ”.

Về con dấu của pháp nhân, cũng có sự khác biệt giữa VN và nước ngoài.

“Đối với pháp luật nước ngoài, điều quan trọng không phải là con dấu của pháp nhân mà là chữ ký đã đăng ký của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó. Ở ta, pháp luật quy định pháp nhân phải có con dấu riêng, do cơ quan công an độc quyền cấp. Đứng ở góc độ quản lý và điều tra hình sự, tự dạng con người có tính ổn định và độ tin cậy cao hơn”.

Với khá nhiều dự án, phải lập giải trình kinh tế kỹ thuật. Điều này thật ra cũng mang tính hình thức, vì:

“Những thông tin trong báo cáo giải trình không có ý nghĩa ràng buộc về pháp lý đối với nhà đầu tư. Giả sử trong báo cáo giải trình, nhà đầu tư xác định năng lực SX của Cty là 5000 máy/năm, lợi nhuận 100 tỷ đồng… nhưng các thông số này hoàn toàn có thể khác đi trong thực tế mà không vi phạm pháp luật. Vậy có cần thiết không khi bắt buộc nhà đầu tư làm giải trình trong khi 1 dự án có giải trình và 1 dự án không có giải trình đều phải tuân thủ pháp luật như nhau về lao động, thuế hay bảo vệ môi trường?”

Tóm lại, theo tác giả, cơ quan cấp phép “nên dành thời gian, công sức để xem xét những vấn đề thuộc về bản chất của dự án như sự phù hợp của quy hoạch, nhu cầu đất đai và khả năng đền bù giải tỏa của nhà đầu tư… hơn là xem xét những vấn đề mang tính hình thức như trên”.

Cùng chủ đề “VN không giống năm châu”, báo Pháp luật TP.HCM ngày 21/3 có bài của Phan Gia Hi nhận xét ở VN, trong rất nhiều trường hợp Tòa án đã làm thay Viện Kiểm sát trong việc chứng minh tội phạm, ở không ít vụ, việc xét hỏi của tòa hóa ra lại là “bên công tố thứ hai” góp phần buộc tội bị c
áo.

Việc chứng minh tội phạm là việc của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, còn tòa án chỉ mang tính chất “trọng tài đứng giữa” để nhận định ai đúng ai sai. Ở nhiều nước, tòa cho 2 bên cãi thả ga, còn mình chỉ ngồi nghe, thấy ai nói có lý thì chấp nhận (ví dụ, nếu Viện kiểm sát không đủ sức chứng minh tội phạm thì tuyên bị cáo vô tội và ngược lại. Ở VN có khá nhiều trường hợp, Tòa lại đứng mũi chịu sào còn Viện chỉ ngồi nghe Tòa và bị cáo tranh tụng).

Luật của ta cho phép tòa tham gia xét hỏi để làm rõ những điều còn mập mờ, vì khi Tòa thấu hiểu được cặn kẽ mọi việc thì mới có phán quyết chính xác. Cũng vì quy định này mà trường hợp Tòa biến thành bên công tố thứ 2 lại trở nên phổ biến.

Vài biểu hiện của việc tòa án VN thế kỷ XXI vẫn đập bàn è è theo kiểu Bao Chửng đời Tống bên Tàu xa lơ xa lắc:

“Trước đây đã tồn tại cảnh thẩm phán đập bàn đập ghế, chỉ mặt bị cáo quát tháo ầm ĩ: Mày không nhận tội thì coi chừng tao! khiến không ít bị cáo sợ vãi ra quần, phải gật đầu bừa. Hiện văn hóa pháp đình đã tiến bộ nhưng trong cách xét hỏi vẫn ẩn chứa đâu đó việc tòa buộc tội bị cáo. Nhìn chung, việc này rất dễ thể hiện qua những câu hỏi mang tính áp đặt, truy bức, thậm chí cả những câu hỏi có, không… Xa hơn, đó là những đánh giá của tòa về hành vi của bị cáo trong quá trình xét xử. Chẳng hạn, khi đang xét hỏi, tranh luận, vụ việc chưa có kết luận cuối cùng mà chủ tọa đã nhắc nhở: Bị cáo có thấy, có nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội? Điều này không khác gì việc tòa đã bảo: Thôi đừng cãi nữa, ông có tội rồi!“.

Advertisements

Một phản hồi to “Đọc báo 3/2007 (2)”

  1. Hoang17 said

    Bai nay Cavenui viet hay day. Cung can co tg nua moi thay doi duoc, tu dan tri den quan tri, quan k biet minh co quen den dau, ma dan cung k biet minh co quyen gi…

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: