Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Lưu trữ

  • Phản hồi gần đây

    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    sonata on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Đọc báo 3/2007

Posted by cavenui on Tháng Tư 11, 2007

Quochuy Nga

“Các vấn đề quốc tế” tháng 3/2007

Chiến lược của Nga đối phó với sự trỗi dậy hòa bình của TQ- Hồ Kiện

Bài của Hồ Kiện, Viện nghiên cứu Âu-Á, Học viện Khoa học Xã hội Thượng Hải, đăng trong tạp chí “Ngoại giao TQ” số 10/2006- TTXVN dịch- Cavenui trích, lược bớt những thông tin ai cũng biết, tự sửa những chỗ thấy rõ là người dịch đã dịch nhầm.

I. Nhận định cơ bản về xu thế chiến lược đối ngoại của Nga hiện nay 

Xem xét hoạt động ngoại giao và sự thay đổi môi trường bên ngoài của Nga thời gian gần đây có thể đưa ra nhận định cơ bản về chiến lược đối ngoại của Nga là: Hướng quan tâm chiến lược đang chuyển dịch dần sang phương Đông.

Trước hết, do sự chèn ép của phương Tây, bộ phận châu Âu thuộc lục địa Âu-Á sau khi xảy ra cách mạng màu sắc đã mất đi sắc thái địa chính trị Âu-Á, chuyển hướng rõ rệt sang phương Tây. Mở đầu là Gruzia (1), tiếp đó là Moldova và Ukraina. Đặc biệt là Ukraina, từng được Brezinsky đánh giá là 1 trong những nước thuộc trục cơ bản của địa chính trị đại lục Âu-Á, không còn Ukraina, Nga không bao giờ còn là 1 đế quốc Âu-Á nữa. Có thể thấy, sau cuộc cách mạng màu cam của Ukraina, trên thực tế Nga đã mất Ukraina. Cuộc xung đột năng lượng giữa Nga và Ukraina đầu 2006 trên thực tế là 1 biện pháp của Nga đối phó với phương Tây nhằm bảo vệ lợi ích địa chính trị của mình. Tuy nhiên dù Nga sử dụng giải pháp gì thì không gian địa lý phía Tây của Nga đã bị chèn ép nghiêm trọng nhất kể từ khi Liên Xô tan rã đến nay.

Thứ hai, sự chỉ trích của phương Tây đối với chính sách Chechnya của Nga không hề dịu bớt dù đã hình thành “liên minh chống khủng bố” sau sự kiện 11/9. Đối với Nga, lực lượng vũ trang bất hợp pháp Chechnya là bọn khủng bố đích thực, CP Nga sẽ không bao giờ đàm phán với bọn khủng bố và biện pháp hữu hiệu duy nhất là lấy bạo lực trấn áp bạo lực. Ngược lại, phương Tây cho rằng hành động của Nga không phải là chống khủng bố mà là xâm phạm nhân quyền một cách có kế hoạch. Quan niệm nước đôi về chủ nghĩa khủng bố dĩ nhiên dẫn đến nhận thức nước đôi về chống khủng bố. Nga và phương Tây về căn bản không thể điều hòa mâu thuẫn trong vấn đề này.

Thứ ba, sau sự kiện khủng bố Beslan, Putin tăng cường hơn nữa việc tập trung quyền lực của Trung ương, đặc biệt là cải tổ chính quyền, trong đó có việc bổ nhiệm quan chức địa phương. Phương Tây chỉ trích cải cách theo hướng tập quyền của Putin là sự thụt lùi của dân chủ, là báo động đỏ nghiêm trọng về dân chủ chính trị.

 

Từ những nguyên nhân trên, gần đây Nga khó có thể làm được gì nhiều trên bàn cờ địa chính trị phía Tây, tầm nhìn chiến lược của Nga chuyển hướng sang phía Đông là 1 xu thế tất yếu.

Trước hết, ở phương Đông, 2 nước lớn là TQ và Ấn Độ đang không ngừng trỗi dậy, trong khi đó quan hệ chiến lược 3 nước TQ-Ấn Độ-Nga mà Primakov đưa ra năm 1999 đã được thực hiện một cách cụ thể.

Hai là, quan hệ Trung-Nga đang trong thời kỳ tốt đẹp nhất trong lịch sử. Từ khi Nga độc lập, quan hệ Trung-Nga luôn phát triển ổn định, đồng thời đã thiết lập quan hệ hợp tác đối tác chiến lược. Tuy nhiên do trọng tâm ngoại giao của Nga khi đó là phương Tây nên nền ngoại giao chim ưng hai đầu vẫn ưu tiên phương Tây nhiều hơn. Đồng thời, khi đó về hợp tác KT 2 bên còn chưa tìm được những dự án lớn thích hợp, dẫn đến quan hệ KT song phương trong thời gian dài bị đình trệ không phát triển được, từ đó khiến cho quan hệ hợp tác đối tác chiến lược giữa 2 nước thiếu cơ sở KT cần thiết. Sau khi Putin lên cầm quyền, Nga lại càng coi việc trở về với châu Âu là giải pháp quan trọng để khôi phục địa vị nước lớn, không đặt quan hệ với TQ ở vị trí ưu tiên. Nhưng dần dần, cùng với sắc thái ngoại giao thực dụng, Nga càng ngày cảm nhận rõ phương Đông, đặc biệt là TQ vô cùng quan trọng với lợi ích chiến lược của Nga. Năm 2002, 2 nước đã ký kết Hiệp ước láng giềng hợp tác hữu nghị Trung-Nga, vấn đề biên giới cuối cùng đã được giải quyết. 2 năm gần đây, đúng như 2 nguyên thủ đã nói, quan hệ Trung-Nga đã vươn tới tầm cao chưa từng có.

Ba là, Nga đã thay đổi thái độ lạnh nhạt trước đây với Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) chuyển sang coi trọng và thúc đẩy sự phát triển tổ chức đa phương này. Sau cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ ở Afghanistan, Nga ý thức được rằng sản phẩm phụ đằng sau cuộc chiến chống khủng bố là Mỹ tìm kiếm kiểm soát khu vực Trung Á: thiết lập nhiều căn cứ quân sự ở khu vực, thúc đẩy cải tạo dân chủ nhân cơ hội bầu cử ở các quốc gia Trung Á. Mỹ đã hình thành thế bao vây Nga, khiến Nga cảm nhận được sự chèn ép nghiêm trọng đối với không gian địa chính trị của mình và chuyển sang nhiệt tình với SCO.

Ngoài ra, Nga còn tích cực tham gia hợp tác đa phương Đông Á, tích cực thúc đẩy hội đàm 6 bên trên bán đảo Triều Tiên, tìm cách gia nhập các tổ chức chính trị kinh tế khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, tăng cường đối thoại với các nước ASEAN…

 

II. Nhận thức của Nga đối với sự trỗi dậy hòa bình của TQ

Sau khi khái niệm “trỗi dậy hòa bình của TQ” được thủ tướng Ôn Gia Bảo đưa ra 10/12/2003 tại Đại học Harvard, nhận thức chung từ phía Nga là tích cực, cho rằng TQ không ngừng phát triển là đối tác mà Nga có thể hợp tác.

Trước hết, trong quá trình chuyển đổi loại hình KT, mô hình TQ có tác dụng làm khuôn mẫu nhất định đối với Nga. Sau thất bại chuyển đổi mô hình phát triển vào thập kỷ 90 thế kỷ trước, Nga bắt đầu quan tâm đến mô hình chuyển đổi của TQ, đồng thời đưa ra chủ trương học tập TQ. Qua điều tra dư luận xã hội, năm 1990 chỉ có 4% số người Nga được hỏi ý kiến cho rằng Nga nên học tập TQ, còn gần đây tỷ lệ này đã là 41%. Điều này chứng tỏ nhận thức về TQ của Nga đã được cải thiện, thôi thúc nguyện vọng của người Nga tăng cường hợp tác và giao lưu với TQ.

Hai là, tuy Nga đã ra khỏi đáy vực khủng hoảng nhưng Nga vẫn chưa đủ thực lực để mặc cả với phương Tây trong công việc quốc tế. Trong khi đó sự phát triển của TQ đã làm cho quyền phát ngôn của TQ trong các công việc quốc tế ngày một lớn. Ý tưởng hòa nhi bất đồng của TQ khiến nước này trở thành đối tượng đàm phán và hợp tác tốt nhất. TQ trở thành lực lượng quan trọng để Nga có thêm sức nặng trong công việc quốc tế.

Hơn nữa, là 2 nước liền kề nhau, Nga và TQ có lợi ích chung rộng rãi. Về vấn đề khu vực thì Trung Á luôn phải chịu tai họa của chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa ly khai và chủ nghĩa cực đoan, trong khi các phần tử vũ trang bất hợp pháp Chechnya lại có nhiều mối liên hệ nhằng nhịt với 3 thế lực trên. Hiện nay chủ nghĩa khủng bố quốc tế vươn dài ra ngoài theo 3 hướng, tạo thành 3 vòng cung khủng bố. Đó là Kosovo-Trung Á-Afghanistan, Trung Á-Afghanistan-Nam Á-Đông Nam Á và Trung Á-Kosovo-Trung Đông-châu Âu. Trung tâm của 3 vòng cung đó là Trung Á-Afghanistan, mà nơi đây lại chính là khu vực hoạt động ráo riết nhất của các phần tử khủng bố ly khai Đông Thổ nhằm vào TQ. Do đó, TQ và Nga có nhiều lợi ích chung về điểm này.

Tuy nhiên bên cạnh đó, Nga cũng có những nhận thức sai lầm về TQ, “thuyết về mối đe dọa từ TQ” thỉnh thoảng lại rộ lên.

Chuyên gia lịch sử Học viện Khoa học Nga B.Narin đã từng thống kê, trong thời gian từ 93-95 đã có tới 150 bài viết liên quan đến “mối hiểm họa da vàng” được đăng trên các tạp chí Nga. Dù gần đây nhận thức của các giới ở Nga về TQ đã cải thiện, nhưng thuyết về mối đe dọa từ TQ, thuyết bành trướng dân số vẫn chưa im hơi lặng tiếng.

Ví dụ, Viện trưởng Viện nghiên cứu chính trị và quân sự Nga A.Saravin đã công khai coi “mối đe dọa từ TQ” là mối đe dọa thứ 3 xếp sau chiến tranh Chechnya và chiến tranh Kosovo, mà đây lại là mối đe dọa của “chiến tranh tên lửa hạt nhân”. Ông chỉ rõ, tuy chính sách của TQ hiện nay chưa tạo thành mối đe dọa với Nga, “nhưng trong 10 năm nữa liệu ai có thể đảm bảo rằng TQ sẽ không chia cắt bản đồ nước Nga?”.

Ngay 10 năm trước, quyền thủ tướng Gaidar đã từng phát biểu: “Tại khu vực giáp giới giữa 2 nước, mật độ dân số trên lãnh thổ TQ lớn gấp khoảng 100 lần so với bên Nga”, “sự suy yếu của chúng ta cùng với lãnh thổ bao la ở khu vực Viễn Đông chưa được khai phá chính là sự cám dỗ nguy hiểm.

21/8/2004 nhà chiêm tinh nổi tiếng Repin đã tuyên bố trên bản đồ chiêm tinh vùng Viễn Đông của ông ta, thì đến năm 2040, khu vực biên giới ven biển của Nga sẽ trở thành lãnh thổ TQ.

PGĐ Trung tâm Viễn Đông Misasninkov cũng hoài nghi về những lợi ích của Nga từ hợp tác biên giới Trung-Nga. Ông chỉ trích thẳng thừng rằng các doanh nhân TQ đang tước đoạt tài nguyên và những đồng rúp của nước Nga.

Nhận thức sai lầm của Nga đối với sự trỗi dậy của TQ ít nhiều liên quan đến 3 nhân tố là nhận thức tương ứng, ảnh hưởng từ ngoài và mặc cảm lịch sử. Nhưng nhân tố thực tế nhất phản ánh sự thiếu tự tin dân tộc nghiêm trọng khi vị thế nước lớn của Nga còn chưa được khôi phục, tâm lý thất vọng và bi quan trong dân chúng trước sự suy yếu của nước Nga. Họ thiếu niềm tin vào công cuộc chấn hưng đất nước, từ đó thể hiện tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cực đoan bài ngoại .

Đồng thời nhận thức đó cũng xuất phát từ trào lưu tư tưởng thân phương Tây ở Nga vẫn còn có thị trường nhất định. Nhà nghiên cứu dân tộc học Nga nổi tiếng D.Lykhachev đã chỉ rõ: “Từ xưa đến nay Nga không phải là phương Đông”. Tư tưởng này đã ảnh hưởng sâu sắc đến ý tưởng cầm quyền của Putin.

Còn 1 lý do nữa là sự thiếu hiểu biết về TQ. Chủ tịch Đảng Tự do Dân chủ Jirinovsky theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan từng làm ầm ĩ thuyết về mối đe dọa từ TQ, nhưng khi thăm TQ trở về đã thay đổi hoàn toàn thái độ, cho rằng TQ là đối tác có thể tin cậy, thậm chí yêu cầu xem xét ưu tiên TQ trong dự án xây dựng đường ống dẫn khí đốt ở Viễn Đông.

III. Giải pháp chiến lược của Nga ứng phó với sự trỗi dậy của TQ

Từ trước đến nay Nga chưa hề công bố báo
cáo chiến lược về TQ, nhưng điều này không có nghĩa là Nga không có chiến lược đối với TQ, ngược lại, chiến lược đó hết sức rõ ràng. Chiến lược đó có thể chia thành chính sách biện pháp trước mắt cùng chính sách biện pháp trung hạn và dài hạn đối với sự trỗi dậy của TQ.

Trong thời kỳ trước mắt, về KT, Nga vừa coi trọng vừa lợi dụng TQ. Thời kỳ cơ hội chiến lược củq TQ và thời kỳ phục hưng của Nga cùng ở vào 1 thời kỳ lịch sử. Tốc độ phát triển nhanh chóng của nền KT Nga gần đây chủ yếu nhờ vào xuất khẩu năng lượng, trong khi TQ lập kỳ tích thế giới về phát triển KT thông qua mô hình đổi mới KT của mình. Ngay giữa những năm 90 thế kỷ trước, đại sứ đầu tiên của Nga tại LHQ sau khi Nga độc lập là Lukin từng chỉ rõ: “Trước đây tuy Nga lạc hậu so với châu Âu nhưng vẫn còn tiên tiến hơn châu Á. Nhưng từ đó đến nay tốc độ phát triển của châu Á đã nhanh chóng hơn nhiều… Chúng ta phát hiện ra mình không còn ở giữa châu Âu hiện đại với châu Á lạc hậu nữa mà đang trong 1 khu vực trung gian kỳ quặc kẹp giữa “2 châu Âu”. Điều này khiến Nga thấm thía phải chịu sức ép KT đến từ cả 2 phía châu Âu và châu Á. Vì vậy các học giả Nga đề xuất phải coi trọng mô hình phát triển của TQ, lợi dụng sự phát triển nhanh của KT TQ để vực dậy nền KT Nga, nhất là khu vực Viễn Đông. Đồng thời tận dụng sự phát triển nhanh chóng của TQ, Nga còn có cơ hội tham gia hợp tác đa phương Đông Á, tăng cường ảnh hưởng tại khu vực Đông Bắc Á, giữ gìn an ninh cho Nga ở Viễn Đông, đồng thời phát huy vai trò nước lớn trong toàn bộ khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Về lâu dài, Nga sẽ có tư tưởng hoài nghi và đề phòng đối với sự trỗi dậy của TQ. Trong lịch sử, Nga là 1 đế quốc phát triển lên nhờ bành trướng quân sự. Lịch sử đó đã nuôi dưỡng tâm lý dân tộc cảm thấy bất an khi thấy nước khác mạnh. Tâm lý đó được phản ánh tất yếu trong nhận thức đối với TQ, cho rằng sự lớn mạnh không ngừng của TQ nhất định sẽ đi đến con đường bành trướng ra ngoài, còn khái niệm trỗi dậy hòa bình của TQ chẳng qua chỉ là thủ đoạn tuyên truyền chính trị đối ngoại mà thôi.

Vì lẽ đó trong sự hợp tác của Nga với TQ cũng sẽ kèm theo sự đề phòng. Điều này đã được kiểm chứng trong lịch sử hợp tác Nga-TQ, đặc biệt trong hợp tác kỹ thuật quân sự và năng lượng, ý thức đề phòng thể hiện rõ rệt nhất.

TQ, Ấn Độ đều là khách hàng mua vũ khí lớn nhất của Nga, nhưng nếu so sánh hệ thống vũ khí Nga bán cho 2 nước nay có thể thấy hệ thống vũ khí Nga bán cho Ấn số lượng nhiều, phạm vi rộng, hai là hệ thống vũ khí cùng cấp độ thì Ấn Độ thường có trước TQ, ba là cho dù cùng cấp thì hệ thống đựơc bán cho Ấn Độ đều tiên tiến hiện đại hơn hệ thống vũ khí bán cho TQ. Tại sao Nga lại có sự phân biệt đối xử giữa TQ và Ấn Độ trong xuất khẩu vũ khí? Nguyên nhân vì Nga cho rằng sự hiện đại hóa quân đội TQ về lâu dài sẽ thành mối đe dọa lớn đối với an ninh Nga. Cho nên Nga nhất định phải giữ ưu thế kỹ thuật quân sự khoảng 10 năm so với TQ.

Trong hợp tác năng lượng, chính sách của Nga đối với TQ lại càng tráo trở. Năm 2002, Tổng công ty dầu khí TQ tham gia đấu thầu với Gazprom của Nga đã vấp phải sự phủ quyết trắng trợn của Duma quốc gia Nga. Ngoài ra dự án liên quan đến xây dựng đường ống dẫn dầu đã mấy phen trắc trở, phía Nga luôn dùng dằng không quyết định, đến nay vẫn chưa thể ký kết hợp đồng cuối cùng, làm cho phía TQ cũng phải lãng phí thời gian nhiều năm cùng sức người sức của có liên quan đến dự án đường ống dẫn dầu. Hiện tượng Nga đưa ra kiến nghị trước rồi sau đó lại thay đổi có nguyên nhân phía sau là ý thức đề phòng TQ bành trướng, muốn thoát khỏi sự kiềm chế của TQ. Điều này đã làm dao động quyết sách cuối cùng của CP Nga.

(1) Bản dịch ghi là Croatia.

ảnh : quốc huy LB Nga- con đại bàng 2 đầu Á- Âu.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: