Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Thư viện

  • Bình luận mới nhất

    Adt on Lại thêm 1 bài không phải…
    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Chính sách tỷ giá ở VN thời bao cấp

Posted by cavenui trên Tháng Tư 6, 2007

Chính sách tỷ giá thời kỳ 1955-1989

Tác giả: PGS.TS Nguyễn Văn Tiến- phó chủ nhiệm khoa Ngân hàng, Học viện Ngân hàng

Trước hết, cần phải thừa nhận rằng, tất cả các loại tiền giấy của VN từ đồng tiền tài chính (do Bộ Tài chính phát hành) ra đời đầu tiên trong kháng chiến năm 1946 đến đồng tiền Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ 1951 đến 1961 và đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ tháng 10/1961 đến nay chưa bao giờ được quy định hàm lượng vàng hoặc bạc một cách chính thức.

Năm 1955 khi VN bắt đầu có quan hệ ngoại thương với Trung Quốc, các nhà kinh tế đã lựa chọn phương pháp xác định tỷ giá trên cơ sở ngang giá sức mua giữa 2 đồng tiền và sau đó được quy định trong các Hiệp định thanh toán. Cụ thể, tỷ giá giữa đồng nhân dân tệ (CNY) với đồng VN (VND) được xác định bằng cách chọn ra 34 đơn vị hàng hóa cùng loại, thông dụng nhất, tại cùng một thời điểm ở thủ đô 2 nước và có tham khảo thêm giá cả ở một số tỉnh khác để quy đổi ra tổng giá cả của 34 mặt hàng đó theo 2 loại tiền của 2 nước, kết quả tỷ giá vào ngày 25/11/1955 là 1 CNY = 1470 VND. Đến 1956, khi VN bắt đầu có quan hệ ngoại thương với Liên Xô thì tỷ giá giữa VND với đồng Rúp Liên Xô (SUR) được tính chéo nhờ tỷ giá giữa đồng CNY với đồng SUR đã có sẵn từ trước là 1 SUR= 0,5 CNY, suy ra 1 SUR= 735 VND. Tỷ giá trong thời gian này thường được cố định trong một thời gian dài và chúng được điều chỉnh từng đợt theo sự thay đổi về năng suất lao động giữa 2 nước.

Năm 1959, VN tiến hành cải cách mệnh giá tiền tệ thông qua cuộc đổi tiền 2/59 với tỷ lệ 1 đồng tiền mới có giá trị bằng 1000 đồng tiền cũ, theo đó quan hệ tỷ giá cũng tăng lên tương ứng 1000 lần so với đồng SUR và đồng CNY, tức là: 1 VND= 0,68 CNY= 1,36 SUR. Đến đầu năm 1961, tỷ giá giữa VND và SUR được điều chỉnh lại là 1 SUR= 3,27 VND do hàm lượng vàng của SUR được điều chỉnh tăng lên 4,44 lần.

Trong suốt thời kỳ dài từ 1955 đến 1989, nói chung nền KT nước ta nằm trong tình trạng thời chiến, tự cấp tự túc, kinh tế nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo. Nền KT vận hành theo cơ chế chỉ huy, quan liêu bao cấp nặng nề. Quan hệ hiện vật giữ địa vị chi phối, quan hệ hàng hóa tiền tệ chỉ ở vị trí thứ yếu, thị trường trong nước phản ánh đậm nét 1 nền KT lạc hậu, sức mua rất thấp và tự phát, phân hóa thành 2 khu vực KT là khu vực mậu dịch quốc doanh (phương thức hoạt động chủ yếu là cung cấp, phân phối theo định lượng tem phiếu) và khu vực thị trường tự do (hoạt động chủ yếu dưới hình thức ngầm). Hiện tượng cửa quyền, hách dịch, chủ nghĩa giấy tờ nặng nề, nạn đầu cơ tích trữ, nạn khan hiếm hàng hóa luôn chi phối thị trường. Một lượng tiền phát hành được sử dụng để cấp phát và chủ yếu lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng làm cho hệ thống ngân hàng thiếu tiền mặt nghiêm trọng, trong khi ngoài thị trường tự do nạn cho vay nặng lãi trở thành hiện tượng KT phổ biến trong xã hội VN suốt giai đoạn nền KT bao cấp, mà đậm nét nhất là thời kỳ từ 1977-1989.

Từ 1955 đến 1975, miền Bắc đã thiết lập quan hệ KT-thương mại với trên 40 nước, nhưng quan hệ chủ yếu là với các nước XHCN. Do đó, quan hệ tỷ giá của VND chủ yếu là với SUR, còn các đồng tiền tự do chuyển đổi khác thì về cơ bản là không được xác lập chính thức.

Bước sang năm 1977, các nước XHCN thỏa thuận thanh toán với nhau bằng tiền Rúp chuyển nhượng có hàm lượng vàng quy định là 0,98712 gram. Đây là đồng tiền tập thể, chỉ tồn tại ở dạng ghi sổ, dùng trong thanh toán mậu dịch giữa các nước trong khối.

Bức tranh tổng thể nói trên chi phối trực tiếp đến quan hệ KT nói chung và chính sách tỷ giá của VN nói riêng trong suốt giai đoạn từ 1955 đến 1989. Tỷ giá được chia làm 2 khu vực, bao gồm Khu vực 1: Tỷ giá trong phe XHCN và Khu vực 2: Tỷ giá ngoài phe XHCN.

Tỷ giá khu vực I:

Trong thời gian này, VN có quan hệ thương mại chủ yếu với các nước XHCN. Hình thức buôn bán phổ biến là hàng đổi hàng theo 1 tỷ giá cố định được quy định trong các hiệp định song phương và đa phương. Tỷ giá được chia thành nhiều nhóm tương thích với từng mục đích quan hệ KT khác nhau, bao gồm:

Tỷ giá mậu dịch: Là tỷ giá dùng trong thanh toán có liên quan đến mua, bán hàng hóa, dịch vụ vật chất giữa các nước trong phe XHCN. Nó được xác định dựa trên cơ sở so sánh giá hàng hóa xuất khẩu tính bằng VND và tính bằng ngoại tệ ở nước ngoài.

Tỷ giá phi mậu dịch: Là tỷ giá dùng trong thanh toán, chi trả hàng hóa hoặc dịch vụ vật chất không mang tính thương mại giữa các nước trong phe XHCN, như chi về ngoại giao, đào tạo, hội thảo, hội nghị… Nó được xác định trên cơ sở giá bán lẻ của một số mặt hàng tại 2 nước tính theo đồng tiền của 2 nước. Tại VN trong 1 thời kỳ dài đã quy định tỷ giá phi mậu dịch thấp hơn rất nhiều so với tỷ giá mậu dịch để điều tiết lại phần “chênh lệch giá” do những người nước ngoài được mua rẻ ở VN. Trong thời kỳ này nếu tỷ giá mậu dịch là 3,27 VND/SUR thì tỷ giá phi mậu dịch là 1,7
VND/SUR cùng thời điểm.

Tất cả các tỷ giá phi mậu dịch giữa VN với các nước đều dần dần hết hiệu lực trong năm 1989 và cuối cùng là ngày 31/12/1999.

Tỷ giá kết toán nội bộ: Được xác định trên cơ sở tỷ giá chính thức cộng thêm hệ số phần trăm để bù lỗ cho các đơn vị xuất khẩu. Tỷ giá này không công bố ra ngoài mà chỉ áp dụng trong thanh toán nội bộ (nên gọi là kết toán nội bộ). Tỷ giá chính thức (tỷ giá mậu dịch) do Nhà nước công bố và cố định trong một thời gian dài. Tại thời điểm công bố, tỷ giá chính thức thường thấp hơn tỷ giá thị trường (tức VND bị định giá cao), do đó hoạt động xuất khẩu tính theo tỷ giá chính thức bị lỗ. Để bù lỗ cho xuất khẩu, Nhà nước dùng tỷ giá kết toán nội bộ bằng tỷ giá chính thức cộng thêm một tỷ lệ phần trăm quy định cho từng nhóm hàng.

Đối với hàng nhập khẩu như vật tư nguyên liệu, thiết bị, Nhà nước đứng ra phân phối cho các ngành trong nền KTQD tính theo tỷ giá chính thức (giá phân phối). Như vậy các ngành, các địa phương được phân phối các loại vật tư, nguyên liệu thì được lợi, còn Nhà nước không thu được chênh lệch giá. Để hạn chế nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng hoặc hàng xa xỉ phẩm, Nhà nước áp dụng mức tỷ giá cao hơn rất nhiều so với tỷ giá chính thức.

Tỷ giá chính thức thấp nên các tổ chức KT và cá nhân có ngoại tệ không bán cho ngân hàng vì như vậy sẽ bị thiệt. Các tổ chức đại diện nước ngoài hoặc cá nhân nước ngoài cũng hạn chế chuyển tiền vào tài khoản ở ngân hàng để chi tiêu mà thường đưa hàng từ nước ngoài vào hoặc sử dụng ngoại tệ tiền mặt trực tiếp trên thị trường tự do. Do đó, cơ chế tỷ giá thời kỳ này đã trở thành 1 yếu tố tạo cho ngoại tệ bị thả nổi, mua bán trên thị trường tự do, tạo môi trường tốt cho đô la hóa.

Tỷ giá kiều hối: Nhằm thu hút nguồn ngoại tệ mạnh từ các nước tư bản do kiều bào chuyển về hoặc khuyến khích khách du lịch tại VN (nên còn gọi là tỷ giá du lịch), Nhà nước tính thêm 1 hệ số thu hút cộng vào tỷ giá chính thức. Vì vậy, tỷ giá này thường cao hơn tỷ giá công bố chính thức và có thể lên tới 50%.

Tỷ giá khu vực II:

Thời kỳ này Ngân hàng VN dựa vào quan hệ tỷ giá giữa VND với đồng đô la Hongkong và tính chéo ra tỷ giá với các đồng ngoại tệ khác. Chính sách xuyên suốt về tỷ giá đối với các nước ngoài phe XHCN là ngay từ đầu VN chỉ áp dụng một loại tỷ giá chính thức, không phân biệt theo các loại quan hệ mậu dịch hay phi mậu dịch.

Tóm lại, đây là thời kỳ nền KT mang tính kế hoạch hóa tập trung bao cấp, Nhà nước can thiệp vào mọi mặt đời sống xã hội, quyết định các chính sách KT vi mô và vĩ mô theo 1 kế hoạch quy mô tập trung toàn quốc. Sự can thiệp này đã ngăn cản khả năng phát huy tác dụng các quy luật cung cầu trên thị trường, nếu có thì cũng bị bóp méo, sai lệch. Hơn nữa, hệ thống các nước XHCN lại áp dụng 1 chiến lược phát triển KT hướng nội, đóng cửa, các mối quan hệ với bên ngoài đều thông qua hệ thống độc quyền của Nhà nước về ngoại thương và ngoại hối, do đó độc quyền trong việc ban hành và ấn định tỷ giá. Do vậy, việc áp dụng chế độ tỷ giá cố định do Nhà nước độc quyền xác định không cần tính đến những yếu tố cung cầu của thị trường. Với cơ sở KT như vậy, VN cũng như các nước XHCN khác đều duy trì phương pháp xác định tỷ giá dựa trên cơ sở so sánh sức mua đối nội và sức mua đối ngoại giữa các đồng tiền và sau đó được quyết định bằng những Hiệp định thanh toán đựơc ký kết giữa các nước XHCN với nhau. Sản phẩm của cơ chế xác định tỷ giá này là các nước XHCN duy trì chế độ tỷ giá cố địnhđa tỷ giá, đồng thời triệt tiêu môi trường và mọi điều kiện để hình thành và phát triển các thị trường nói chung, trong đó có thị trường ngoại hối, là nơi gặp gỡ cung cầu ngoại tệ, từ đó hình thành nên tỷ giá thị trường.

Hậu quả của 1 cơ chế tỷ giá cố định và đa tỷ giá mang tính áp đặt bất chấp quy luật cung cầu tiền tệ đã để lại hậu quả hết sức nghiêm trọng. Đồng tiền VN được định giá quá cao so với các đồng tiền tự do chuyển đổi. Tỷ giá chính thức ngày càng chênh lệch xa tỷ giá thị trường (năm 1985, tỷ giá chính thức VND/USD là 15, trong khi tỷ giá thị trường tự do là 115), làm cho hoạt động xuất khẩu gặp khó khăn, cán cân thương mại bị thâm hụt nặng. Đối với các DN, đặc biệt là doanh nghiệp SX hàng xuất khẩu, đã rơi vào tình trạng khó khăn thua lỗ, tuy có chế độ thu bù chênh lệch ngoại thương (lỗ thì ngân sách cấp bù, còn lãi thì nộp ngân sách) nhưng dù sao cũng triệt tiêu động lực phát triển xa hơn.

(Nguồn: “Tài chính quốc tế hiện đại trong nền KT mở- Đánh giá chính sách tỷ giá của VN sau 20 năm đổi mới”- Nguyễn Văn Tiến- NXB Thống kê 2005)

Advertisements

3 phản hồi to “Chính sách tỷ giá ở VN thời bao cấp”

  1. myselfvn said

    Cái này thú vị ghê

  2. Cảm ơn bạn. Tui đang làm đề tài về tỷ giá, đang cần tìm tài liệu về chính sách tỷ giá VN giai đoạn 1955-1989, vào google thì tìm đc bài này. Cảm ơn bạn nhiều nhe!

  3. Giang said

    hihi, đúng thứ mình cần, thanx nhìu nha

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: