Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Thư viện

  • Bình luận mới nhất

    Adt on Lại thêm 1 bài không phải…
    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

People’s life under the subsidy economy (2)

Posted by cavenui trên Tháng Tám 7, 2006

Lịch sử sổ gạo

Sau hiệp định Genèves 1954, miền Bắc mất đi 1 nguồn cung cấp gạo thường xuyên của miền Nam qua cảng Hải Phòng, nạn đói bắt đầu đe dọa một số nơi. Từ 1955, Nhà nước tạm thời bán gạo định lượng cho các hộ gia đình ở thành phố. Mỗi thành phố áp dụng 1 tiêu chuẩn khác nhau.

Từ 1/3/57, Nhà nước mới thực hiện chế độ cung cấp gạo ăn hàng tháng cho tất cả bộ đội, CBCNV, học sinh các trường chuyên nghiệp, học sinh trường phổ thông hưởng học bổng toàn phần, bệnh nhân tại các bệnh viện, trạm điều dưỡng… Giá thống nhất và ổn định là 4 hào/kg.

Đến 1959, Nhà nước mở rộng đối tượng được cung cấp gạo định lượng: thêm công nhân viên chức ại các cơ sở công tư hợp doanh, xã viên HTX tiểu thủ công nghiệp, nhân dân thành thị và những đối tượng làm nghề phi nông nghiệp (thợ thủ công, người làm muối, ngư dân, làm nghề rừng…). Nhưng năm 59 này nông nghiệp đã phục hồi, giá gạo trên thị trường còn thấp nên sổ gạo chưa có mấy ý nghĩa.

Sang 1960, việc hợp tác hóa nông nghiệp đã hoàn thành, nhưng kết quả của thắng lợi to lớn này là sản lượng nông nghiệp giảm sút, chính nông dân cũng không đủ gạo ăn. Nhà nước thu mua rất khó khăn. Do khan hiếm lương thực, giá cả thị trường tự do tăng rất nhanh. Từ đây tem phiếu và sổ gạo trở thành chuyện sinh tử của mọi gia đình. Người ta đua nhau đi xin tiêu chuẩn gạo để được đảm bảo lương thực ăn hàng ngày. Từ đó số gạo và tem phiếu trở thành 1 thứ tiền tệ (giá thị trường-giá cung cấp= giá trị tem phiếu).

Giá thị trường ngày càng vượt xa giá cung cấp: mức chênh lệch năm 1960: khoảng 1,5 lần, năm 1964: 2-3 lần, năm 1970: 5-6 lần, năm 1975: gần 10 lần.

Từ 1963, cùng với Chỉ thị số 03-TTg ngày 14/1/63 về chế độ tem phiếu và lương thực do Phó thủ tướng Phạm Hùng ký, chế độ sổ gạo đã được áp dụng ổn định đối với toàn bộ những người lao động phi nông nghiệp. Sổ, tem và giấy giới thiệu chuyển lương thực được áp dụng trên toàn miền Bắc theo 1 mẫu thống nhất. Nhà nước lập ra 1 cơ quan chuyên trách cả việc thu mua lẫn phân phối là Tổng cục Lương thực. Tem lương thực đã trở thành món hàng hóa mua bán với giá rất đắt trong nhân dân, sinh ra lạm dụng và đầu cơ tích trữ tem lương thực.

Định lượng cung cấp gạo như sau:

+Công nhân viên chức, hành chính sự nghiệp: 13,5kg/người/tháng.

+Công nhân SX trực tiếp: 15kg/người/tháng

+ Người ăn theo, tùy độ tuổi: 4-15kg/người/tháng

+Nhân dân thành thị (trên 18 tuổi): 13,5kg/người/tháng.

Dần dần do tình hình lương thực ngày càng khó khăn nên trong định lượng có độn thêm: bột mì, mì sợi, bánh mì, ngô, khoai, sắn… Năm 67, bột mì chiếm tới 30% định lượng hàng tháng (trừ trẻ em dưới 3 tuổi thì được mua 100% gạo).

Sau 75, mặc dù đã có vựa lúa miền Nam, nhưng tình hình không cải thiện. Chiến tranh biên giới tây nam, việc duy trì quân số rất lớn ở trong nước và ở Campuchia là 1 gánh nặng lớn đè lên 1 ngân sách quá yếu. Rồi chiến tranh biên giới phía Bắc 1979. Cuối 78 và liên tiếp cả năm 79, 2 trận lũ lớn ở đồng bằng Nam Bộ cuốn mất lương thực tài sản, phần lớn diện tích canh tác bị ngập úng 5-6 tháng. Rồi việc hợp tác hóa ở miền Nam làm cho sản lượng nông nghiệp càng giảm sút. Năm 76 sản lượng lúa cả năm là 11.827,2 nghìn tấn. Kế hoạch 5 năm dự định là đến 1980 sẽ tăng gấp đôi, tức là đạt 21 triệu tấn thì trong thực tế, đến 1980 chỉ đạt 11.647,4 nghìn tấn, tức là còn kém điểm xuất phát 1976, trong khi dân số vẫn tăng lên. Cả thành phố Hồ Chí Minh cũng phải ăn độn hạt bo bo, điều chưa từng có ở nơi này.

Từ đổi mới 1986, ta bắt đầu thoát khỏi khủng hoảng. Nhờ chế độ khoán trong nông nghiệp, sản lượng lương thực tăng nhanh. Lại do bãi bỏ nạn ngăn sông cấm chợ nên lương thực tự do lưu thông. Từ đó người dân đã được ăn no, không phải lo chạy vạy đi xin phiếu gạo từng bữa, không phải lo xếp hàng để lĩnh gạo.

Từ 5/89, giá gạo thị trường xuống còn thấp hơn cả giá nhà nước. Kể từ đó, sổ gạo biến mất. Hình như không có lệnh nào hủy nó. Mà chỉ là do người dân không ai cần đến nó nữa.

 

Và các loại tem phiếu cơ bản khác

Ngoài sổ gạo, trong chế độ tem phiếu áp dụng rộng rãi ở nền kinh tế thiếu hụt quan liêu bao cấp XHCN trước đổi mới còn có nhiều loại tem phiếu nữa. Ví dụ:

Vải

Từ 1962, định lượng phân phối như sau:

-CBCNV: 5m/người/năm

-Nhân dân thành phố, thị xã: 4m/người/năm

-Nhân dân nông thôn: 3m/người/năm

Các loại phiếu vải cũng chia ra 2 loại nam và nữ. Phiếu vải nữ có quyền được mua mỗi năm 2m lụa đen hay các loại vải tương tự để may quần.

 

Các mặt hàng thực phẩm được phân phối như sau

-Cấp đặc biệt như ủy viên Bộ chính trị (loại phiếu A1) mỗi thàng được 7kg thịt và 3,5kg đường trở lên

– Bộ trưởng hoặc tương đương (phiếu A) mỗi tháng được 6kg thịt (sau 75 giảm xuống còn 4,2kg thịt) và 3kg đường (sau 75 giảm xuống còn 2kg).

-Cán bộ trung cấp (phiếu D) mỗi tháng được 1kg thịt (sau 75 còn 0,8kg) và 0,5kg đường (sau 75 tăng thành 0,7kg)

-Công nhân lao động nặng (phiếu I) mỗi tháng được 1,5kg thịt và 0,75kg đường.

-Nhân dân anh hùng (phiếu N) mỗi tháng được 0,3kg thịt và 0,1kg đường.

Sữa là mặt hàng chỉ dành cho trẻ em và người ốm. Trẻ sơ sinh thành thị dưới 1 năm mẹ mất sữa toàn phần hoặc trẻ em mất mẹ dưới 3 tuổi được phiếu sữa loại A: 8 hộp sữa đặc/tháng. Trẻ sơ sinh nông thôn và trẻ sơ sinh thành thị mà mẹ mất sữa một phần được phiếu sữa loại B gồm 4 hộp sữa đặc/tháng.

 

Chất đốt (dầu, than, củi)

-Các hộ gia đình ở thành phố, thị xã từ 4 người trở lên được cấp than là chủ yếu và được lua 10kg củi/hộ (để nhóm lò)

-Các hộ dưới 4 người được dùng dầu hoàn toàn.

-Diện đối tượng được cung cấp tem phiếu chất đốt ở miền núi thì chỉ được mua củi.

-Diện đối tượng được cung cấp tem phiếu chất đốt ở các nơi khác thì được mua than.

 

Sổ cung cấp phụ tùng xe đạp:

Từ 1965, Nhà nước quy định tiêu chuẩn của mỗi CBCNV nhà nước là được phân phối 1 chiếc xe đạp trong cả đời công tác. Ai đã có xe đạp thì được đăng ký để xin sổ mua phụ tùng. Việc phân phối này khá phức tạp. Mỗi đợt có tiêu chuẩn đưa về cơ quan và xí nghiệp như xích, líp, xăm, lốp… là lại có 1 cuộc bình xét.

 

Bìa mua hàng gia đình:

Các hộ gia đình được cấp bìa mua hàng để được mua các mặt hàng như chiếu, xà phòng, diêm, kim, chỉ… và trong các dịp lễ tết thì được mua các loại chè, thuốc, bánh, mứt, kẹo…

Ngày Quốc khánh các bìa được cung cấp bánh, kẹo, thuốc lá, chè.

-Ngày Tết trung thu, được cung cấp bánh nướng, bánh dẻo.

-Ngày Tết nguyên đán được cung cấp phong phú hơn cả, mỗi hộ được mua 1 túi hàng Tết.

Ngoài các loại tem phiếu trên còn có nhiều thứ giấy tờ có thể mua hàng: giấy giới thiệu, giấy chứng nhận kết hôn; giấy báo tử, bệnh tật. Ví dụ có giấy báo tử thì gia đình được mua 1 quan tài theo giá cung cấp kèm theo một số vải tang (người dân tộc: 10m/người, người Kinh: 6m/người). Có giấy khai sinh thì được mua xoong nồi, chậu tắm, vải làm tã lót… Có giấy kết hôn được mua 1 màn đôi, 2 kg bánh kẹo, 10 bao thuốc lá, ngoài ra tùy nơi tùy lúc mà còn có thể được mua cả 1 giường đôi, chậu tắm trẻ con, 1 xoong hoặc nồi nhôm, 1 phích nước…

(Theo bài của Đặng Phong và Lý Phượng- Tạp chí Xưa Nay số 263: 7/2006) 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: