Cavenui

Đã thấy – Đã nếm – Đã chán

  • Thư viện

  • Bình luận mới nhất

    Adt on Lại thêm 1 bài không phải…
    chucnguyen81 on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    vtdtfc on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Nina on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…
    Cáo on Vĩnh biệt bà con, Cavenui xuốn…

Huynh Thuc Khang by Van Tao

Posted by cavenui trên Tháng Sáu 21, 2006

Quan hệ của Đảng Cộng sản VN với Huỳnh Thúc Kháng từ 1930 đến 1946

 

Đảng CS VN qua mỗi thời kỳ lịch sử đều phải đổi mới chính sách trong tập hợp lực lượng cách mạng. Việc định rõ bạn, thù, bạn gần, bạn xa, đồng minh chiến lược và đồng minh sách lược… cho từng thời kỳ là rất quan trọng.

Trong đồng minh chiến lược, giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng đã coi nông dân là đồng minh chiến lược chí cốt và lâu dài trong khối liên minh công nông. Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ thì tiểu tư sản thành thị, tư sản dân tộc cũng là đồng minh chiến lược đứng sau nông dân. Trí thức hay tiểu tư sản thành thị có xu hướng dân chủ tư sản luôn được Đảng quan tâm đoàn kết, tranh thủ, tránh sự lôi kéo, chia rẽ của kẻ thù.

Riêng với cụ Huỳnh Thúc Kháng, Đảng đã có sự đổi mới trong quan hệ, chuyển dần từ đánh giá tiêu cực sang hợp tác tích cực.

 

Vào thời kỳ 1930-1936, những ai theo đường lối cải lương đều không được coi là đồng minh. Cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng đã bị đối xử như vậy.

Trong Luận cương chính trị tháng 10/1930, Đảng đã xếp Huỳnh Thúc Kháng cùng với Phạm Quỳnh vào “bọn thỏa hiệp với đế quốc”.

Văn kiện nêu rõ: “Tư bổn bổn xứ chia làm 2 bộ phận, 1 bộ phận thì đã hiệp tác với đế quốc chủ nghĩa… 1 bộ phận nữa (bọn Huỳnh Thúc Kháng, bọn Phạm Quỳnh, bọn Ngọ Báo v.v) hiện còn thỏa hiệp với đế quốc, chúng nó lợi dụng phong trào cách mạng để yêu cầu đế quốc những quyền lợi riêng của chúng nó đồng thời để lừa gạt quần chúng. Ngoài mặt thì chúng nó ra bộ đòi những cải cách, nhưng kỳ thiệt chúng nó, kiếm cách phá hoại phong trào cách mạng của công, nông. Chiến lược của Đảng ta là phải chỉ rõ cái tánh chất quốc gia cải lương của bọn này”. (Văn kiện Đảng 1930-1945, Tập 1, Ban NVCLSĐ XB.1977, H, tr.72)

Đến Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương 6/1932 cũng vẫn xếp: “Đảng Lập hiến ở Nam Kỳ và phe quốc gia cải lương ở Bắc Kỳ (Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh v.v), ở Trung Kỳ (Huỳnh Thúc Kháng v.v) và đảng phái của địa chủ, tư sản, quan lại, trạng sư và mật thám. Mấy đảng phái ấy không bao giờ bênh vực quyền lợi của quần chúng lao động mà bao giờ cũng đồng thanh hợp tác mật thiết với đế quốc…” và đã xếp hẳn vào hàng ngũ tôi tớ của đế quốc: “Bọn đế quốc Pháp cùng quan tôi tớ của chúng là bọn quốc gia cải lương, như Bùi Quang Chiêu, Phạm Quỳnh, Huỳnh Thúc Kháng v.v… cố dùng những lời hứa nọ kia để ru ngủ giai cấp thợ thuyền và quần chúng lao động, đặng chúng nó che đậy cuộc tiến công chống lại giai cấp thợ thuyền”. (Văn kiện Đảng 1930-1945, Tập 1, Ban NVCLSĐ XB.1977, H, tr.300 và 328)

Đến Hội nghị nhân viên Ban lãnh đạo Đảng CS Đông Dương ở hải ngoại và các đại biểu đảng bộ ở trong nước 6/1934 lại lên án mạnh mẽ hơn:

“Bọn quốc gia cải lương như Bùi Quang Chiêu, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh (Nguyễn An Ninh mới được kể vào đây-Văn Tạo) v.v… là rất nguy hiểm cho sự phát triển của phong trào cách mạng và bọn này cũng tự nhận là bênh vực quần chúng lao động, đối lập với chính phủ, truyền bá những biện pháp cải lương Pháp-Việt hợp tác, cùng thống nhất các giai cấp v.v… với mục đích duy nhất là đánh lạc hướng quần chúng ra ngoài con đường cách mạng”. (Văn kiện Đảng 1930-1945, Tập 1, Ban NVCLSĐ XB.1977, H, tr.431)

Trong Thư ngỏ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CS Đông Dương gửi Việt Nam quốc dân đảng, các nhóm và phe phái cách mạng, các Hội phản đế… 4/1936 vẫn viết: “Bọn quốc gia cải lương như Bùi Quang Chiêu, Huỳnh Thúc Kháng và Nguyễn Văn Vĩnh cổ vũ không ngớt mồm cho đường lối hợp tác Pháp-Việt, hợp tác giữa các giai cấp xã hội, hòng đánh lạc hướng cuộc đấu tranh của quẩn chúng”.(Văn kiện Đảng 1930-1945, Tập 1, Ban NVCLSĐ XB.1977, H, tr.44). Trong Lời kêu gọi nhân ngày 1/5/1936 cũng có đoạn tương tự như vậy.

 

Nhưng từ năm 1937 trở đi, tức khi đường lối Mặt trận Dân chủ được triển khai thì các văn kiện, nghị quyết các Hội nghị Trung ương Đảng CS Đông Dương (phần đề cập đến những phần tử cải lương, phản động, tờ-rốt-kít…) đã không nói đến Huỳnh Thúc Kháng nữa.

Đến Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VI, tháng 11/1939, thì Nghị quyết, tuy có nhắc đến Huỳnh Thúc Kháng và báo Tiếng Dân nhưng thái độ đã có khác. Nghị quyết Hội nghị viết: “Một vài cơ quan như báo Tiếng Dân ở Trung, báo Ngày Nay ở Bắc, báo Văn Lang ở Nam đều có xu hướng quốc gia cải lương…  Báo Tiếng Dân của ông Huỳnh Thúc Kháng đôi khi hô hào cải cách trên mặt báo…”; đến phần đánh giá đã có phân hóa: “Trong xu hướng quốc gia cải lương, có bọn đã trở nên hoàn toàn phản động, làm tay sai cho đế quốc Pháp. Còn phần đông lưng chừng, khiếp nhược, tuy thấy bất bình chính sách áp bức dã man của đế quốc song lại sợ phong trào cách mệnh của quần chúng”.(Văn kiện Đảng 1930-1945, Tập 1, Ban NVCLSĐ XB.1977, H, tr.45). Huỳnh Thúc Kháng đã được xếp vào số “phần đông bất bình với chính sách áp bức dã man của đế quốc”.

 

Chuyển hướng mạnh phải kể từ Hội nghị Trung ương lần thứ VII, 11/1940. Phần Nghị quyết nói về các đảng phái, đi sâu phân tích các đảng phái mới, cũ, hoặc bài Pháp chống Nhật, hoặc thân Pháp thân Nhật, không còn chút nào đề cập đến “bọn cải lương”, đến Huỳnh Thúc Kháng. Đồng thời nêu cao chủ trương phát triển “Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương”, thu hút hết thảy các lực lượng phản đế.

Tới Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, tháng 5/1941, Đảng hoàn toàn không phê phán các xu hướng cải lương, trong đó có Huỳnh Thúc Kháng nữa. Lý do là:

Một mặt, trước bọn phát xít thì không còn xu hướng cải lương, cải cách nào tồn tại và phát triển được nữa. Riêng đối với Huỳnh Thúc Kháng thì thực tế ngày càng chứng minh rõ, cụ là 1 nhà yêu nước chân thành, mọi sự ve vãn của phát xít Nhật và tay sai đã không làm cụ ngả nghiêng, cụ thể, trong bức thư trả lời Cường Để mời cụ hợp tác với Nhật, cụ đã khéo léo khước từ. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp 9/3/1945, Bảo Đại nhân danh chính quyền (thân Nhật) viết thư mời cụ ra lập Nội các, cụ không những vạch rõ “Nhật không chút gì thực tâm với ta”, lại còn thẳng thắn nói với Bảo Đại: “Tôi thành thực khuyên ngài thoái vị mà giao quyền cho nhân dân”.

Mặt khác, đường lối xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất của Đảng CS Đông Dương ngày càng có nhiều sáng tạo, nhất là từ mặt trận Việt Minh (1941) trở đi.

Từ đây cho đến Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống Pháp, đặc biệt từ ngày cụ Hồ mời cụ Huỳnh ra tham gia công việc chính phủ (cụ ra mắt Hội đồng Chính phủ ngày 7/3/1946) thì con đường cứu nước của cụ Huỳnh đã hợp làm 1 với con đường cứu nước vừa vũ trang, vừa cải cách đổi mới của toàn dân.

 

Bước đổi mới này trong sách lược của Đảng đối với trí thức chứng tỏ Đảng luôn coi trọng đổi mới tư duy chính trị trong đoàn kết dân tộc, đoàn kết trí thức.

Đồng thời đây cũng là 1 biểu hiện về sự trân trọng mặt tích cực của các phong trào cải cách, đổi mới đầu thế kỷ XX.

Văn Tạo (rút từ cuốn 10 cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử VN- NXB Đại học Sư phạm, 2006).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: